Trang chủ Dịch vụ Kiến thức y khoa

Cùng Tạp chí Sức khỏe đến với cuộc trò chuyện với PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay (Nguyên Trưởng bộ môn YHCT ĐHYD TP.HCM), người với rất nhiều năm kinh nghiệm và có đóng góp lớn cho ngành Đông Y Việt Nam, về quá trình theo đuổi công việc yêu thích của mình.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay - Đông y Việt Nam

1/ Đông y ngày trước gắn với hình ảnh ông thầy lang hốt thuốc nam, hái lá này, sắc thuốc kia, rất đơn giản nhưng cũng thiếu tính hiện đại so với các phương tiện chẩn đoán khoa học, hiệu quả của Tây y. Đông y có một thời, gần như chỉ dành cho người nghèo? Đông y gần như bị ghẻ lạnh trong nền y học hiện đại. BS có thấy như vậy?

Nói đúng hơn, Đông y không phải bị ghẻ lạnh mà là bị hiểu lầm.Và khi không hiểu đúng về Đông y thì dĩ nhiên sẽ có sự e dè trong việc ứng dụng Đông y trong chẩn đoán và điều trị. Khi chúng ta chưa có thời gian để tìm hiểu, và chỉ có thể dựa vào nhận định chung từ trước đến giờ người ta dành cho Đông y, thì rất dễ quy chụp cho Đông y với “hái lá, sắc thuốc, thiếu tính hiện đại,…” mặc dù đó không phải là bản chất thật của Đông y.

Mọi vấn đề đều được dựa trên cơ sở lý luận. Cơ sở lý luận của Y học hiện đại (hay thường được gọi là Tây y) là thực chứng, dựa trên bằng chứng thực tiễn thí nghiệm và thực hành lâm sàng khách quan, nên có một nền tảng vững chắc và có thể phát triển rất nhanh, mạnh, đem lại hiệu quả chẩn đoán và điều trị trúng đích. Trong khi đó, cơ sở lý luận của Y học cổ truyền (hay thường được gọi là Đông y) chính là triết học. Các lý luận triết học này cũng đi từ thực hành lâm sàng, nhưng khá chủ quan, qua sự quan sát và mô tả các triệu chứng biểu hiện bệnh, chẩn đoán thành các bệnh cảnh lâm sàng, người thầy thuốc biện chứng luận trị trên cơ sở ứng dụng các học thuyết Âm Dương, Ngũ hành,... để đưa ra các phương pháp điều trị như dưỡng sinh, châm cứu, cấu tạo bài thuốc thang từ thảo dược,... Thuật ngữ y học để chẩn đoán và phương pháp điều trị khác nhau, nhưng giá trị ứng dụng và kết quả điều trị như nhau. Do vậy, Đông y và Tây y vốn là hai trường phái y học có cơ sở lý luận khác nhau, nhưng đều có giá trị khoa học và cần được công nhận một cách bình đẳng.

2/ Có khi nào những người thầy thuốc Đông y thấy cô đơn trên con đường mình đi?

Có lẽ trong giai đoạn trước đây, khi vai trò của Đông y chưa được đánh giá đúng thì thực sự cảm thấy cô đơn. Tuy nhiên, những năm gần đây, các bác sĩ Y học cổ truyền trẻ và tâm huyết đã bắt đầu có thâm niên với ngành và số lượng ngày càng tăng, nên chúng tôi đã có lực lượng kế thừa. Từ năm 1998, trường Đại học Y Dược TP.HCM thành lập Khoa YHCT, chỉ năm đầu số lượng sinh viên học ngành này còn ít (chỉ tuyển được 32 sinh viên vào học ngành Bác sĩ YHCT), nhưng sau đó và cho đến nay, con số tuyển vào hằng năm trên dưới 100 sinh viên và 19 năm nay là hơn 2000 BS. YHCT được đào tạo chính quy, không kể hơn 3.000 BS.YHCT hệ liên thông cũng đã được trường ĐHYD TP.HCM đào tạo đưa về phục vụ cho hơn 20 tỉnh thành phía nam. Trong các hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành kể cả của Tây y trong cả nước, hay tầm cỡ khu vực và quốc tế hiện nay, cũng có mời diễn giả là chuyên gia về Đông y tham dự báo cáo các nghiên cứu trong lĩnh vực Đông Y. Vậy nên hiện giờ chúng tôi không còn cô đơn lẻ bóng nữa mà có rất nhiều bạn đồng hành, trong ngành lẫn ngoài ngành.

3/ Qua giai đoạn bị ghẻ lạnh, bây giờ Y học cổ truyền lại được sùng bái theo kiểu thái quá: Nhiều bệnh nhân bỏ viện để uống cây thuốc nào đó, theo Đông y với lý do “thời gian dài theo Tây y không hiệu quả”. BS nghĩ sao về điều này?

Khi người bệnh được bác sĩ Đông y thăm khám và chẩn đoán, đưa ra phương pháp điều trị và theo dõi, đó mới gọi là Đông y. Còn việc người bệnh tự dùng một vị thuốc, bài thuốc hay “đi theo” một phương thức điều trị dân gian nào đó, không phải là Đông y. Đó có thể là tự chọn lựa theo kinh nghiệm của người khác, hoặc theo các lan truyền không chính thống, thì đó không phải là Đông Y. Việc kết hợp Đông - Tây y hiện cũng không phải là điều gì quá mới mẻ và ở một số nơi, như Cơ sở 3 - BV Đại Học Y Dược TP.HCM, BV Y học cổ truyền TP.HCM, Viện Y dược học dân tộc,… cũng đã thực hiện điều này từ lâu. Khi kết hợp hai nền y học này lại, chúng ta sẽ tận dụng được ưu thế của cả hai và giảm thiểu khuyết điểm của cả hai, giúp mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất.

4/ Sinh viên Y khoa vẫn chưa thật sự yêu thích Đông y. Vì sao? Do thời gian học của môn này quá ít, không đủ tạo sự say mê? Do Đông y vẫn còn lép vế trước Tây y? Hay còn những lý do nào khác?

Phải hỏi là sinh viên y khoa nào? Tại Đại Học Y Dược, hiện nay bác sĩ chính quy được đào tạo theo hai ngạch: bác sĩ đa khoa (Tây y), và bác sĩ y học cổ truyền (Đông y). Cả hai ngạch đều đào tạo trong vòng sáu năm, và học chung các môn khoa học cơ bản cũng như một số môn lâm sàng. Đối với các bạn theo học Đông y thì thường là có yêu thích ngay từ đầu và phải có đủ say mê thì mới “dấn thân” được trong suốt sáu năm. Đối với các bạn theo học Tây y thì chương trình chỉ có một tháng để học về Đông y, thời gian quá ngắn nên chỉ có thể giới thiệu với các bạn về một số lý luận cơ bản, một số phương thức điều trị. Bên cạnh đó, Đông y sử dụng phương thức điều trị từ Dưỡng sinh, Châm cứu, Thuốc từ Dược liệu, các lý luận triết học đòi hỏi nhiều thời gian để hiểu, nên đây cũng là một rào cản cho “tình yêu” của các bạn khi đến với Đông y. Các BS đa khoa khi ra trường lao vào chuyên khoa yêu thích, họ đâu còn nhiều thời gian để nhớ và nghĩ về một tháng hiếm hoi được tiếp cận với Đông Y.

5/ Là Giảng viên mang kiến thức Đông y truyền đạt cho thế hệ sinh viên tiếp nối, theo BS, động lực nào để sinh viên chọn Đông y, phấn đấu vì Đông y làm tương lai?

Nhà thơ lớn người Mỹ Robert Frost có một bài thơ rất nổi tiếng tựa đề dịch ra tiếng Việt là “Con đường chưa ai chọn” (The road not taken), trong đó có một đoạn được trích dẫn rất nhiều: “Con đường chia hai lối rẽ, tôi chọn đường chưa ai đi, và điều đó tạo nên mọi sự khác biệt.” Đông y chính là “con đường chưa ai chọn” nhưng lại có rất nhiều tiềm năng, mặc dù cũng khá chông gai.

Tôi xin nói về những khó khăn trước. Một số các khó khăn tôi đã nêu khi trả lời câu hỏi vừa rồi. Bên cạnh đó, vì là “con đường chưa ai chọn” nên Đông y hiện chưa có đủ nhiều thầy lớn và có sức ảnh hưởng để hỗ trợ các bạn BS trẻ như Tây y. Một điều khá tế nhị nữa, đó là hiện nay xã hội chúng ta chưa có sự trân trọng đúng mức dành cho Đông y, nên khi hành nghề đôi khi các bạn sẽ vấp phải các vấn đề như lòng tin của bệnh nhân, sự tôn trọng của đồng nghiệp Tây y. Đây chính là rào cản lớn nhất, vì khi chọn một ngành mà đôi khi khiến bạn cảm thấy không được đánh giá cao, không được tin cậy, những lúc đó bạn sẽ mất niềm tin và rất dễ bỏ cuộc. Vì vậy, để bước vào và trụ lại, phát triển trên con đường này, bạn cần phải hiểu rõ đặc điểm của ngành, hiểu rõ bản thân mình, điều gì khiến bạn vui, điều gì tạo động lực cho bạn phát triển, làm cách nào để có thể nuôi sống gia đình mà vẫn có thể tận tâm với nghề, với bệnh nhân.

“Con đường chưa ai chọn” vừa là thách thức, nhưng cũng vừa là tiềm năng mở ngỏ cho các bạn trẻ không ngại thử lửa.Y học cổ truyền đã tồn tại và tiếp tục phát triển từ hàng nghìn năm nay. Và cho dù Y học hiện đại với rất nhiều ưu điểm đang chiếm thượng phong, Y học cổ truyền vẫn lặng lẽ tồn tại và ngày càng phát triển. Một ngành y học có thể tồn tại lâu như vậy bên cạnh một “đối thủ nặng ký”, nghĩa là nó phải có một giá trị nhất định và giá trị đó không phải là nhỏ. Rất nhiều bài thuốc hay công thức châm cứu rất hiệu quả trong điều trị, hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh lý ung thư, thần kinh, miễn dịch,… Nếu chúng ta có thể bằng chứng hoá với nghiên cứu khoa học cơ bản, hệ thống hoá các phương pháp khác nhau, giản tiện phương thức điều trị (chế biến sẵn thuốc sắc thay vì phải sắc mỗi ngày, châm cứu cải tiến,…) thì sẽ càng làm tăng giá trị và hiệu quả điều trị của các phương pháp này, giúp phổ biến chúng rộng rãi trong cộng đồng. Với nhiều khoảng trống chưa được chạm đến, đây là mảnh đất màu mỡ cho các bạn trẻ đam mê tìm hiểu, nghiên cứu, và có thể nhanh chóng trở thành những người tiên phong trong lĩnh vực. Khi bạn làm việc say mê, có hiệu quả, dĩ nhiên sẽ vừa mang lại niềm vui cuộc sống đồng thời lợi ích kinh tế cũng sẽ đi theo.

6/ Điểm mạnh của Đông y là gì? Điều mà BS quan tâm nhiều nhất hiện nay ở lĩnh vực Đông y?

Từ các nghiên cứu khoa học, dễ dàng nhận ra điểm mạnh của Đông Y là điều chỉnh các rối loạn chức năng, hỗ trợ điều trị một cách tích cực các bệnh mạn tính, các bệnh khó và bổ dưỡng cơ thể. Với quan điểm điều trị, là tạo lại quân bình cho cơ thể, việc ứng dụng các phương pháp điều trị của Đông y mang tính toàn diện, giúp cơ thể tự cân bằng. Như trong các bệnh mạn tính có suy giảm các chức năng, Đông y sẽ giúp cơ thể “phù chính” (nâng sức kháng bệnh, bổ), đủ sức để “khu tà” (đẩy lùi nguyên nhân gây bệnh - tả). Hơn thế nữa, một thế mạnh rất lớn của Đông y phải kể đến là “cá nhân hoá” việc điều trị, mỗi người bệnh có một cơ địa khác nhau, mạch lý và các triệu chứng biểu hiện khác nhau sẽ sử dụng một bài thuốc khác so với người cùng được chẩn đoán một bệnh.

Điều tôi quan tâm thí dụ như đối với bệnh Ung thư, dù tỷ lệ tử vong do ung thư đứng sau bệnh Tim mạch và Đột quỵ, nhưng người ta vẫn hãi hùng, tuyệt vọng khi biết mình bị ung thư. Trong kết hợp Đông - Tây y, nếu Tây Y rất mạnh trong điều trị trúng đích bằng phẫu thuật, bằng hóa - xạ trị, nhưng tác dụng phụ từ những phương pháp này không nhỏ, cũng như không phải ai cũng may mắn chẩn đoán sớm ung thư, vậy thì vì sao không kết hợp các phương pháp của Đông Y hỗ trợ điều trị chống ung thư, tôi muốn nói đến Đông Y bài bản, chứ không phải kinh nghiệm lan truyền.

7/ Từ “không thích”, đến “quan tâm” rồi đến “yêu”- 1 tình yêu dành cho Đông y, BS đã trải qua những giai đoạn ấy, cung bậc ấy như thế nào? Bước ngoặt “Tình yêu” ấy bắt đầu từ khi nào?

Tuổi trẻ bồng bột và hiếu thắng đã tạo ra không ít chông gai trên đường đi của tôi. Không thích vì bị bắt buộc một cách oan uổng, vì bị đẩy vào trong giai đoạn xã hội như em nói lúc đầu đó là sự “ghẻ lạnh” đối với Đông Y, vì cảm thấy thụt lùi trong khi bạn bè mình dấn bước trong vinh quang chuyên môn nghề nghiệp,… thôi thì hãy bước qua những cung bậc ấy. Có thể dùng từ “bước ngoặt tình yêu” (như câu hỏi ở trên) là từ đây: gần 20 năm từ khi ra trường, làm việc ở BV Chợ Rẫy, rồi Viện Y dược học dân tộc, rồi bệnh viện thực hành YHCT, nay là Cơ sở 3 BV Đại học Y Dược, trên từng bệnh nhân nội - ngoại trú nặng nhẹ khác nhau, được áp dụng đông y vào trị liệu. Có trường hợp tương đối thành công, có trường hợp thất bại phải thuyết phục bệnh nhân chấp nhận phẫu thuật để giữ sinh mạng của mình. Bệnh nhân là những người Thầy giúp tôi hiểu, hơn ai hết trong thời khắc hiểm nguy họ cần người thầy thuốc giỏi nghề, không phân biệt là Đông hay Tây, dù chưa phải là một công trình nghiên cứu khoa học, nhưng thực tế này giúp tôi yêu nghề, tiếp tục dấn thân. Cho đến năm 1994, khi tôi đã 42 tuổi, được sang Nhật học 3 tháng, rồi 6 tháng trong môi trường cạnh tranh khoa học gắt gao, nghiên cứu nghiêm túc, một mình trong đêm trong thư viện, tất cả đã cho tôi niềm đam mê được nghiên cứu. Năm 1996, lần đầu tiên được báo cáo tại hội nghị quốc tế về Pharmacology tổ chức tại Toyama, được thảo luận và chia sẻ ngang hàng với các nhà khoa học khác. Lần đầu tiên cảm nhận hạnh phúc khi mình là một thầy thuốc Đông Y, đủ để gọi đó là tình yêu.

8/ Một gia đình hoàn hảo: 2 con gái (1 BS, 1 Dược sĩ) đều đang tiếp tục được học bậc cao hơn ở nước ngoài, gia đình hạnh phúc. Theo BS, vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại cần những yếu tố gì? Có gì gặp nhau giữa hiện đại và truyền thống?

Trong xã hội hiện đại, sự khác biệt về vai trò của phụ nữ và đàn ông ngày càng được xoá mờ. Ngày nay, phụ nữ phải gánh vác chung với chồng về kinh tế, đối chọi với các thách thức trong công việc cuộc sống và vẫn cần phải đảm đương việc nhà. Người đàn ông ngoài công việc và những “việc lớn” bên ngoài, thì ngày càng chia sẻ nhiều hơn với vợ mình trong công việc nhà. Không lạ gì khi chúng ta thấy các ông đi chợ, giặt đồ, lau nhà, hay các cô làm sếp, thương thảo hợp đồng,… Vậy nên chúng ta không nên câu nệ quá về việc trong gia đình, người phụ nữ phải làm gì, người đàn ông phải làm gì. Mà là trong nhà chúng ta, anh làm được việc gì, em làm được việc gì, các con làm được việc gì, chúng ta chia sẻ với nhau.Như vậy các thành viên đều có trách nhiệm và sẽ trân trọng những gì các thành viên khác đóng góp cho gia đình hơn.

Dù vậy, không thể phủ nhận, người phụ nữ đóng vai trò “xây tổ ấm” tốt hơn. Nên ngoài việc cố gắng trong công việc, cũng nên dành ra thời gian cố định sau giờ làm việc cho gia đình, nấu ăn, chăm sóc bản thân. Nếu được như vậy thì quả thật là “mười phân vẹn mười.”

Xin cám ơn Bác sĩ đã có cuộc trao đổi tâm huyết!

Theo Tạp chí Sức khỏe - Khoe24h.vn

Kim Ánh thực hiện

Phương pháp này vừa giúp giảm mỡ bụng lại rất an toàn, hiệu quả và kết quả bền vững cho những ai đủ kiên nhẫn.

Xoa bóp

Tư thế: đứng hoặc nằm ngửa.

Kỹ thuật xoa bóp:

Lưu ý: xoa bóp theo chiều kim đồng hồ để kích thích tiêu hóa đồng thời không gây táo bón.

Xoa vuốt vùng bụng: dùng một hoặc hai bàn tay xoa vuốt vòng tròn quanh rốn theo chiều kim đồng hồ, hai tay riêng rẽ xoa vuốt luân phiên hoặc một tay nắm thành nắm đấm đặt trên bụng, tay kia đặt lên trên bàn tay nắm lại, hai tay cùng tạo lực ấn xoa theo vòng tròn. Chú ý: khi làm tới vùng bàng quang (bụng dưới) thì tay lướt nhẹ (ấn mạnh tạo kích thích buồn tiểu).

Nhào cơ: hai tay bắt cơ bụng rồi vặn chéo. Vặn vùng hai bên rốn (hai bên dưới xương sườn), trên rốn, dưới rốn nhào nhẹ.

Day cơ: dùng mô cái và mô út thực hiện kỹ thuật ở vùng bụng.

Day ấn dọc theo khung đại tràng: dùng các đầu ngón tay day dọc đường tròn xung quanh rốn cho đến hết vùng bụng.

Lắc cơ: đặt 2 tay vào bụng lắc qua lắc lại.

Ấn huyệt: Trung quản (ở điểm giữa của đoạn nối rốn và điểm giao nhau của hai bờ sườn hoặc từ rốn đo thẳng lên trên 4 tấc), Thiên xu (từ rốn ngang ra 2 thốn, Quan nguyên, Trung cực, Cự khuyết, khí hải,..

Xoa vùng bụng theo chiều kim đồng hồ kết thúc.

Không nên thực hiện xoa bụng giảm mỡ khi:

Đang đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

Lao màng bụng.

Các u ở vùng bụng.

Lymphosarcom.

Các động tác dưỡng sinh giúp làm săn chắc vòng 2

Đưa quả tạ lên trên và đằng sau:

Chuẩn bị: hai chân đứng chữ nhân. Nắm chặt hai quả tạ trong hai tay (nặng vừa sức, khoảng 1 - 1,5kg mỗi quả).

Động tác: đưa hai tay thẳng lên đằng trước và lên trên, cố gắng đưa ra phía sau càng nhiều càng tốt, hít vô tối đa; giữ hơi, dao động trước sau từ 2 - 6 cái; đưa hai tay ra đằng trước, hạ tay xuống đưa ra phía sau, càng xa càng tốt, đồng thởi thở ra triệt để, có ép bụng thật mạnh, càng cố gắng đưa tay ra phía sau thì ép bụng càng mạnh, giữ tư thế ép bụng triệt để 2 - 3 giây. Làm động tác như vậy 2 - 5 hơi thở.

Tác dụng: động tác này giúp thót bụng dưới rất mạnh, rất hữu ích cho những người bụng phệ, bụng nhão.

Có thể làm động tác đưa tay ra hai bên.

Nằm ngửa ngay chân, khoanh tay ngồi dậy:

Chuẩn bị: nằm ngửa ngay chân, khoanh tay để trên đầu.

Động tác: hít vô tối đa, đưa hai tay xuống để trên ngực, cố gắng từ từ ngồi dậy; cúi đầu xuống hết sức, ép bụng thở ra triệt để. Làm 1 - 3 hơi thở.

Tác dụng: làm săn chắc các cơ thành bụng, làm cho các cơ vùng lưng và xương chậu, đùi mạnh lên, phòng và chống các bệnh do ứ trệ khí huyết vùng thắt lưng và vùng chậu, bệnh phụ nữ, bệnh bộ sinh dục, bệnh táo bón, bệnh viêm cơ thắt lưng - chậu - đùi.

Ngồi ếch:

Chuẩn bị: tư thế trên ngồi hoa sen, thân sát giường, cằm đụng chiếu, hai tay chồm ra trước.

Động tác: ngẩng đầu lên, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại thân đầu từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm 1 - 3 hơi thở.

Trên đây là các phương pháp rất dễ để tự thực hiện được ở nhà. Nếu thực hiện đều đặn kết hợp với ăn uống thích hợp chắc chắn sẽ mang lại kết quả rất tốt.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

- Theo suckhoedoisong.vn

SKĐS - Theo Đông y, hen phế quản thuộc chứng háo suyễn với nhiều thể bệnh. Việc điều trị phải dựa theo thể bệnh để cho thuốc hay châm cứu.

Hen hàn:

Triệu chứng:

- Thay đổi thời tiết, lạnh nhiều xuất hiện cơn khó thở ra, kèm có tiếng rên rít.

- Ho đờm trong loãng trắng có bọt.

- Ngực đầy tức như bị nghẹt, khi cố dùng sức để thở thì có tiếng kêu phát ra.

- Người lạnh, sợ lạnh, sắc mặt xanh tái, thích uống nước nóng.

- Rêu lưỡi trắng mỏng, ướt trơn.

- Mạch phù (nếu do hàn tà gây nên; mạch trầm khẩn nếu cả trong ngoài đều có hàn).

Pháp trị: ôn phế tán hàn, trừ đờm, định suyễn.

Phương dược: Tô tử giáng khí thang: tô tử, sinh khương, nhục quế, chích thảo, bán hạ, trần bì, hậu phác, tiền hồ, đương quy.

Ý nghĩa: tô tử để giáng khí hóa đàm bình suyễn chỉ ho; bán hạ, hậu phác, trần bì để khử đàm chỉ ho bình suyễn; nhục quế để ôn thận khu lý hàn, nạp khí bình suyễn; đương quy để dưỡng huyết bổ can kết hợp với quế để bổ hư ở hạ tiêu do thận không nạp khí; sinh khương để tán hàn tuyên phế; chích thảo hòa trung điều hòa các vị thuốc.

Phương huyệt: cứu tả Đại chùy, Phong trì, Phong môn, Liệt khuyết, Đản trung, Thiên đột, Phong long, Định suyễn.

Điều trị hen phế quảnĐiều trị hen phế quản

Sa sâm, mạch môn để bổ dưỡng khí âm

Hen nhiệt:

Triệu chứng:

- Khi gặp trời nóng nực thì lên cơn khó thở ra, thở mạnh thở gấp rút cảm giác ngộp.

- Ho nhiều, đàm vàng đặc đục, dẻo dính, khó khạc.

- Ngực đầy, khó thở kèm tiếng kêu phát ra.

- Lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng nhờn.

- Mạch hoạt sác.

Pháp trị: thanh nhiệt, tuyên phế hóa đàm.

Phương dược: Tang bạch bì thang: tang bạch bì, hoàng cầm, hoàng liên, sơn chi, hạnh nhân, bối mẫu, tô tử, sinh khương

Ý nghĩa: tang bạch bì thanh phế nhiệt lợi tiểu; hoàng cầm, hoàng liên, sơn chi để thanh nhiệt ở thượng tiêu; hạnh nhân, bối mẫu, tô tử để giáng khí hóa đàm tuyên phế, sinh khương tán ngoại tà.

Ngoài ra còn thể dùng phương dược Bạch hổ thang gia hoàng cầm, chỉ thực, qua lâu; hoặc phương từ thuốc nam như mạch môn, bạc hà, lá dâu, chỉ thiên, rễ tranh, cam thảo dây.

Phương huyệt: châm tả Đại chùy, Phong trì, Phong môn, Liệt khuyết, Đản trung, Thiên đột, Phong long, Định suyễn, Khúc trì, Hợp cốc.

Hen do ẩm thực:

Triệu chứng:

- Ăn phải thức ăn không thích hợp nên có cơn hen.

- Tiếng thở như tiếng ngáy, thô ráp, mệt, cảm giác tức hơi.

- Đầy trướng ngực bụng.

- Mạch hoạt thực.

Pháp trị: tiêu thực tích.

Phương dược: dùng la bạc tử với nước cốt gừng hòa với mật ong uống.

- Tuệ Tĩnh dùng: tô tử, trần bì, nhục quế, riềng, nhân sâm. Lượng thuốc bằng nhau, dùng để chữa ho hen, thở gấp, khí nghịch bụng đau như dùi đâm.

Ý nghĩa bài thuốc: quế để ôn trung, riềng tiêu thực; sâm bổ khí; trần bì lý khí hóa đờm chỉ ho suyễn.

Thanh kim đơn: la bạc tử (sao); tạo giác thích (đốt tồn tính); chỉ thực; sinh khương; sắc uống lúc nóng.

Phế khí hư:

Triệu chứng:

- Thở gấp, đoản khí.

- Tiếng ho khẽ, yếu, tiếng nói nhỏ không có sức.

- Tự hãn, sợ gió.

- Miệng khô, mặt đỏ, hầu họng khô.

- Lưỡi hơi đỏ.

- Mạch phu nhu tế.

Pháp trị: dưỡng phế định suyễn.

Phương dược: Sinh mạch định tán gia vị: đảng sâm, mạch môn, ngũ vị tử; gia: sa sâm, bối mẫu, quế chi, huỳnh kỳ, cam thảo.

Ý nghĩa: sa sâm, mạch môn để bổ dưỡng khí âm; ngũ vị tử để thu liễm phế khí; sa sâm, bối mẫu để nhuận phế hóa đàm; quế chi, huỳnh kỳ, cam thảo để ôn ích phế khí.

Phương huyệt: cứu bổ Thái uyên, Thiên lịch, Phế du, Trung phủ, Khí hải, Đản trung, Quan nguyên, Tỳ du.

Thận khí hư:

Triệu chứng:

- Suyễn lâu ngày, thở ra dài hít vào ngắn.

- Làm việc là suyễn, vận động là thở gấp, nghỉ ngơi đỡ hơn.

- Tinh thần mệt mỏi, ra nhiều mồ hôi, thở có lúc ngắt quãng.

- Tây chân lạnh, đau lưng, ù tai.

- Mạch trầm tế.

Pháp trị: bổ thận nạp khí.

Phương dược Thận khí hoàn gia giảm: thục địa, hoài sơn, sơn thù, phục linh, trạch tả, đơn bì, nhục quế, phụ tử, nhân sâm, ngũ vị tử, phá cố chỉ.

- Ý nghĩa: thục địa, hoài sơn, sơn thù bổ thận âm; quế phụ để ôn thận dương; nhân sâm, ngũ vị tử, phá cố chỉ để ôn thận nạp khí.

Nếu có thêm triệu chứng: phù, tim đập hồi hộp, thở gấp đó là do dương quá hư thủy tràn, dùng pháp trị: ôn dương lợi thủy.

Phương dược: Chân vũ thang (thương hàn luận): phụ tử, bạch truật, bạch thược, bạch linh, sinh khương.

- Ý nghĩa: phụ tử để ôn thận tỳ, trợ dương khí; bạch linh để thẩm thấp kiện tỳ; bạch truật để kiện tỳ lợi thấp; bạch thược để liễm âm dưỡng huyết chỉ thống; sinh khương để trợ phụ tử ôn dương tán hàn.

- Phương huyệt: cứu bổ Thái uyên, Thiên lịch, Khí hải, Đản trung, Mệnh môn, Thận du, Phế du, Thái khê, Phục lưu.

Sau khi hết cơn háo suyễn, ngoài cơn suyễn có thể tập luyện Yoga khí công các bài tập về phổi, xoa bóp bấm huyệt vùng ngực, vùng lưng trên; nếu có điều kiện dùng bài thuốc bổ khí hoặc bổ phế thận.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị điều trị ban ngày - Cơ sở 3 BV. Đại học Y Dược TP.HCM)

Theo suckhoedoisong.vn

Đối với bệnh viêm gan virút nói riêng, viêm gan vàng da nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc chữa rất có hiệu quả.

Đây không phải là những bài thuốc đặc trị mà chính là tăng cường chức năng gan, giúp chức năng gan trở lại trạng thái bình thường.

Đông y không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo Y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi đến toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to.

Điều trị theo chứng bệnh

Về phân loại, Đông y phân ra hai chứng hoàng đản: Dương hoàng và Âm hoàng.

Dương hoàng biểu hiện mặt, mắt vàng tươi sáng như màu quả quýt, da vàng nhuận, bệnh nhân cảm giác lợm giọng, nôn ọe, vùng thượng vị đau tức, nước tiểu đỏ và sẻn, có sốt, thân thể mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc trắng mỏng, chất lưỡi đỏ. Phép chữa là thanh nhiệt, lợi thấp. Bài thuốc: nhân trần 30g, vọng cách 20g, chi tử 10g, vỏ đại (sao vàng) 10g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g, nghệ vàng 20g, mã đề 12g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g. Tất cả cho vào ấm đất với 500ml nước, sắc còn 150ml, chắt ra, cho nước sắc tiếp, lấy thêm 100ml, trộn chung cả hai lần, chia đều uống trong ngày, uống trước các bữa ăn. Uống liền 7 - 10 ngày.

Âm hoàng có triệu chứng mặt, mắt và da vàng hãm tối, bụng đầy, rối loạn tiêu hóa, vùng thượng vị, trung vị, hạ vị đều đau tức, không sốt, thân thể mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc hơi vàng trơn, chất lưỡi nhợt nhạt.

Cây nhân trần
Cây nhân trần

 

Phép chữa là ôn hóa hàn thấp. Bài thuốc thường dùng: nhân trần 30g, vọng cách 20g, gừng khô 8g, quế thông 4g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g (sao), nghệ vàng 20g, củ sả 8g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g (sao). Sắc uống như bài trên.

Điều trị theo thể bệnh

Viêm gan mạn tính thường xảy ra sau khi mắc các bệnh viêm gan cấp (viêm gansiêu vi, viêm gan nhiễm độc); sau khi mắc bệnh sốt rét hoặc suy dinh dưỡng kéo dài. Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là sự giảm sút chức năng gan, thoái hóa tế bào gan và các rối loạn về tiêu hóa, cơn đau vùng gan, vàng da, tiêu chảy hay táo bón, chậm tiêu, chán ănê

Nguyên nhân theo y học cổ truyền là do công năng của tỳ vị, can bị rối loạn, ảnh hưởng tới âm huyết hoặc tân dịch, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động của cơ thể. Một số bài thuốc điều trị theo từng thể bệnh:

Thể can nhiệt tỳ thấp: viêm gan có vàng da kéo dài. Người bệnh thường thấy đắng miệng không muốn ăn, bụng đầy trướng, ngực sườn đầy tức, miệng khô nhợt, đau nóng ở vùng gan, da sạm tối. Tiểu tiện ít, vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền. Phép chữa là thanh nhiệt lợi thấp, thoái hoàng, kiện tỳ trừ thấp. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: nhân trần 20g, chi tử 12g, uất kim 8g, ngưu tất 8g, đinh lăng 12g, hoài sơn 12g, ý dĩ 16g, biển đậu 12g, rễ cỏ tranh 12g, sa tiền tử 12g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: nhân trần ngũ linh tán gia giảm: nhân trần 20g, bạch truật 12g, sa tiền12g, đẳng sâm 16g, phục linh 12g, trư linh 8g, trạch tả 12g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hoàng cầm hoạt thạch thang gia giảm: hoàng cầm 12g, hoạt thạch 12g, đại phúc bì 12g, phục linh 8g, trư linh 8g, bạch đậu khấu 8g, kim ngân 16g, mộc thông 12g, nhân trần 20g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can uất tỳ hư, khí trệ: hay gặp ở viêm gan mạn do viêm gan siêu vi. Người bệnh có biểu hiện mạn sườn phải đau, ngực sườn đau tức, miệng đắng, ăn kém, người mệt mỏi, đại tiện phân nát, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền. Phép chữa là sơ can kiện tỳ lý khí. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: rau má 12g, mướp đắng 12g, thanh bì 8g, chỉ thực 8g, uất kim 8g, hậu phác 8g, ý dĩ 16g, hoài sơn 16g, biển đậu 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Sài hồ sơ can thang gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 8g, chỉ thực 6g, xuyên khung 8g, hậu phác 6g, cam thảo 6g, đương quy 6g, đại táo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Sài thược lục quân thang: bạch truật 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 8g, cam thảo 6g, trần bì 6g, bán hạ 6g, sài hồ 12g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can âm bị thương tổn: người bệnh có biểu hiện đầu choáng, hồi hộp, ngủ ít, hay mê, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, táo bón, nước tiểu vàng, mạch huyền sác. Phép chữa là tư âm dưỡng can. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: sa sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 12g, thiên môn 8g, kỷ tử 12g, huyết dụ 16g, hoài sơn 16g, ý dĩ 16g, hà thủ ô 12g, tang thầm 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nhất quán tiễn gia giảm: sa sâm 12g, sinh địa 12g, nữ trinh tử 12g, mạch môn 12g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g, hà thủ ô 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu mất ngủ gia toan táo nhân 10g; sốt hâm hấp gia địa cốt bì 12g, thanh hao 8g. Mạch môn là vị thuốc trị viêm gan mạn thể can âm bị thương tổn rất hiệu quả.

Thể khí trệ huyết ứ: hay gặp ở thể viêm gan mạn có kèm theo hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch chủ. Người bệnh có biểu hiện sắc mặt tối sạm, môi thâm, lưỡi tím, lách to, người gầy, ăn kém, tuần hoàn bàng hệ ở bụng, đại tiện phân nát, nước tiểu vàng ít, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi vàng dính, mạch huyền sác. Phép chữa là sơ can lý khí hoạt huyết. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: kê huyết đằng 12g, cỏ nhọ nồi 12g, uất kim 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, chỉ xác 8g, sinh địa 12g, mẫu lệ 16g, quy bản 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Tứ vật đào hồng gia giảm: bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, diên hồ sách 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu lách to gia tam lăng 12g, nga truật 12g, mẫu lệ 20g, mai ba ba 20g.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ