Trang chủ Tin tức sự kiện

THÔNG TIN TUYỂN DỤNG THÁNG 11/2017

1. Vị trí: Tạp vụ
Độ tuổi: từ 25 đến 40 tuổi
Thời gian làm việc: giờ hành chính.
Trình độ: tốt nghiệp Trung học phổ thông.
Yêu cầu khác: tính tình cẩn thận, chu đáo, sạch sẽ, ngăn nắp.
Hồ sơ yêu cầu:
- Đơn xin việc (viết tay) có dán ảnh 3x4
- Sơ yếu lý lịch công chứng.
- Bản sao công chứng: CMND, Hộ khẩu, Bằng cấp.
- Giấy chứng nhận đủ sức khỏe ( trong vòng 6 tháng)
- Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động của các đơn vị cũ (nếu có)

2. Vị trí: Kỹ sư
Độ tuổi: từ 25 đến 40 tuổi
Thời gian làm việc: giờ hành chính.
Trình độ: Trung cấp trở lên.
Yêu cầu khác: có kỹ năng về sửa chữa, xây dựng
Hồ sơ yêu cầu:
- Đơn xin việc (viết tay) có dán ảnh 3x4
- Sơ yếu lý lịch công chứng.
- Bản sao công chứng: CMND, Hộ khẩu, Bằng cấp.
- Giấy chứng nhận đủ sức khỏe (trong vòng 6 tháng)
- Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động của các đơn vị cũ (nếu có)

Nộp hồ sơ tại: 
Ban Hành chính tổng hợp - Cơ sở 3 Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM.
Địa chỉ: 221B Hoàng Văn Thụ, phường 8, Quận Phú Nhuận, TPHCM.

Phương pháp xoa bóp - bấm huyệt rất hiệu quả trong giảm đau, ngăn chặn tiến triển và phục hồi vận động, hạn chế tổn thương trong hoại tử chỏm xương đùi.

Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi hay còn gọi là hoại tử vô mạch (Avascular Necrosis) chỏm xương đùi là bệnh có tổn thương hoại tử tế bào xương và tủy xương do thiếu máu nuôi trên chỏm xương đùi. Vùng hoại tử lúc đầu tạo ra các vùng thưa xương, các ổ khuyết xương, về sau dẫn đến gãy xương dưới sụn, cuối cùng gây xẹp chỏm xương đùi, thoái hóa thứ phát và mất chức năng của khớp háng, dẫn đến tàn phế.

Hoại tử chỏm xương đùi tự phát thường gặp nhất ở độ tuổi trung niên (20 - 50 tuổi), nam thường gặp nhiều hơn nữ (nam chiếm 80%). Ngoài ra, bệnh chứng này còn xuất hiện thứ phát sau chấn thương và một số nguyên nhân khác và phụ thuộc vào tuổi mắc các bệnh lý nền.

Những tác dụng

Tác dụng giảm đau: những thao tác chậm nhịp nhàng mềm mại sẽ có tác dụng ức chế thần kinh, làm cơ thư giãn và giảm đau. Xoa bóp - bấm huyệt kích thích làm cơ thể tiết ra morphin nội sinh (endorphin - có tác dụng giảm đau nhưng không gây nghiện và không độc hại như tiêm morphin) có tác dụng làm giảm đau, thư giãn cơ thể.

Ngăn chặn và phục hồi tổn thương: xoa bóp - bấm huyệt làm tăng lưu thông máu qua hệ thống mao mạch, tĩnh mạch, bạch mạch ở các tổ chức. Qua nghiên cứu tác dụng của xoa bóp đối với sự lưu thông mao mạch, người ta thấy xoa bóp và vận động có ảnh hưởng tới số lượng mao mạch hoạt động. Sự giãn nở mạch máu và lưu thông máu tốt giúp cho tổ chức cơ thể được cung cấp dinh dưỡng, oxy, thải trừ chất cặn bã và khí cacbonnic được tốt hơn.Vì vậy, làm cho tổ chức được xoa bóp hoạt động và hồi phục được nhanh hơn. Đặc biệt, xoa bóp làm tăng tuần hoàn bạch mạch 5 - 6 lần nên giảm phù nề tổ chức và giảm đau rất tốt trong các trường hợp ứ trệ tuần hoàn bạch mạch do chèn ép phù nề. Tuần hoàn bạch mạch lưu thông tốt giúp khả năng thực bào, miễn dịch được gia tăng nên khả năng chống viêm nhiễm được tốt hơn.

Đối với khớp: tác dụng của xoa bóp khớp cũng được tăng cường dinh dưỡng bao hoạt dịch tăng tiết chất nhờn làm trơn ổ khớp.

Đối với xương: tuần hoàn cơ được cải thiện khi xoa bóp làm xương được nuôi dưỡng tốt hơn, xoa bóp làm tan tụ máu cơ, chống kết dính các sợi cơ, gân trong chấn thương.

Xoa bóp làm cho sự cung cấp máu đến khớp xương, bao khớp, gân cơ, dây chằng được tốt hơn, gia tăng sự tiết hoạt dịch và làm cho dây chằng luôn giữ vững tính đàn hồi của nó.

Do đó xoa bóp có thể đề phòng và chữa những biến chứng của bệnh, làm vận động của khớp xương dễ dàng hơn.

Xoa bóp - bấm huyệt và vận động khớp háng

Xoa bóp - bấm huyệt xung quanh khớp bị đau và vận động khớp nhẹ nhàng. Xoa bóp - bấm huyệt chi dưới, chú ý xung quanh khớp háng đau và đùi bên đau.

Xoa bóp - bấm huyệt:

Tư thế: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc đứng cạnh bên.

Xoa xát vùng đùi bên tổn thương để bôi trơn dầu xoa (hoặc phấn rơm) tránh trầy xước.

Bóp nắn cơ: bóp nắn cơ khu vực đùi cơ tứ đầu đùi, cơ may, cơ tam đầu, lưu ý không bóp cơ vùng mặt trong 1/3 trên của đùi vì có nhiều tổ chức bạch huyết.

Nhào cơ đùi: dùng 2 bàn tay nhào các cơ tứ đầu đùi, tam đầu vùng đùi.

Day cơ: dùng mô ngón cái và mô ngón út day các cơ vùng đùi.

Vuốt cơ: các đầu ngón tay áp sát da vùng đùi vuốt các cơ vùng đùi.

Tìm điểm đau và day điểm đau: day ấn nhẹ nhàng xung quanh vùng đau.

Day ấn huyệt vùng đùi: Phong thị, Lương khâu, Huyết hải, Hoàn khiêu, Phục thố…

Vận động khớp háng:

Ngả đùi: bệnh nhân nằm ngửa, để bàn chân này lên đầu gối chân kia, rồi ngả đùi xuống; thầy thuốc đứng bên cạnh, một tay giữ hông, một tay ấn đầu gối chạm giường hai đến ba lần; đổi bên.

Khép đùi: bệnh nhân nằm ngửa, co gối, hai bàn chân dang rộng, thầy thuốc đứng bên cạnh, giữ hai đầu gối bệnh nhân rồi luân phiên khép đùi vào bên trong, đầu gối chạm giường từng bên một, làm hai đến bốn lần.

Co đùi: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc đứng bên cạnh; để bệnh nhân co gối, thầy thuốc giữ đầu gối rồi gấp đùi vào bụng, làm từng chân hai đến ba lần. Đổi chân.

Dang đùi: bệnh nhân ở tư thế nằm sấp, thầy thuốc đứng phía dưới chân, cầm hai cổ chân người bệnh, rồi dang chân ra khép chân vào, vài lần.

Sau khi vận động khớp háng xong, có thể xoa bóp lại lần nữa thêm một ít dầu nóng để tăng tác dụng điều trị.

Người bệnh nên đến khám chuyên khoa để được xác định yếu tố nguy cơ, chẩn đoán xác định và chỉ định bằng phương pháp điều trị phù hợp.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Xoa bóp - bấm huyệt vùng chân (FOOT MASSAGE) có lịch sử hàng ngàn năm và được phổ biến rộng rãi khắp thế giới. Vậy, xoa bóp - bấm huyệt vùng chân có tác động tới cơ thể như thế nào?

Trong cơ thể con người có khoảng 40km các loại ống (thần kinh, mạch máu...) từ lớn, nhỏ, tới li ti chạy ngang dọc và khắp cơ thể. Có khoảng 7.200 đầu dây thần kinh ở mỗi bàn chân. Đó là các dây thần kinh, mạch máu lưu thông tới mọi tế bào. Chỉ cần một ống dẫn nhỏ bị tắc ở đâu đó là ảnh hưởng tới cả một nhánh hay cả hệ thống. Đôi bàn chân chúng ta là điểm tận cùng của hệ thống thần kinh và là điểm thấp nhất của các đường ống, vì phần lớn thời gian con người hoạt động là đứng hay ngồi. Cho nên, máu thường bị dồn đọng và ứ tắc tại đây. Việc xoa bóp những điểm bị tắc do máu kém lưu thông giúp cho máu tuần hoàn tốt. Mặt khác, các đốt xương ở bàn chân ít vận động có thể gây “cứng” làm cho một số dây thần kinh và mạch máu bị “kẹt” cũng gây ra sự kém lưu thông.

Theo học thuyết phản xạ vùng

Foot massage hay còn gọi là “phản xạ liệu pháp” (foot reflexology). Liệu pháp này đã được những người dân bản xứ ở châu Phi và biết đến, và cũng được người Trung Quốc, Ai cập cổ thực hành từ rất lâu.

Cho đến đầu thế kỷ 20, tiến sĩ William Fitzgerald đã nghiên cứu và ghi chú rất kỹ về việc bấm vào những phần cụ thể của cơ thể lại có tác dụng gây tê đối với những vùng liên quan.

Williams FitzGerald đã đề ra học thuyết“10 vùng chữa bệnh”(Ten zones therapy). Cơ thể được chia thành thành 10 vùng song song thể hiện những lát cắt xuất phát từ đỉnh đầu, được đánh số từ 1 - 5 theo thứ tự từ đường trung tâm phân chia cơ thể thành 2 phần. Các đường đó đối xứng ở mặt trước cũng như mặt sau, và tận cùng là những đường phản chiếu ở mỗi chân, mỗi tay 5 đường.

Các lát cắt đó cùng với những đường phản chiếu của nó ở bàn chân, ở bàn tay giúp cho ta định hướng để chữa bệnh theo nguyên lý “bệnh phát sinh ở nơi nào trên lát cắt thì tìm và tác động bấm lên điểm phản chiếu ở bàn chân, ở bàn tay. Khi điểm phản chiếu được day ấn hết đau thì bệnh trên cơ thể cũng được giải cứu”.

Theo y học cổ truyền

Đông y cho rằng tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người đều có những vùng đại diện ở bàn chân. Bàn chân trái tương ứng với nửa người bên trái (mắt trái, thận trái, tim, lách, hậu môn, trĩ, …); bàn chân phải tương ứng với nửa người bên phải (mắt phải, gan thận, mật, ruột thừa). Khi day hoặc bấm các huyệt vị ở bàn chân có tác dụng chữa được bệnh, phòng bệnh, kéo dài tuổi xuân và tăng thêm tuổi thọ...

Xoa bóp hai bàn chân không những thúc đẩy máu cục bộ lưu thông, cải thiện việc trao đổi chất dinh dưỡng, làm cho cơ, xương, khớp mềm mại, dẻo dai, mà còn làm thông kinh hoạt lạc, tăng cường sức đề kháng và chống các bệnh tật của toàn thân.

Đôi bàn chân còn có mối liên quan mật thiết tới lục phủ ngũ tạng, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người:

Gan bàn chân có liên hệ tới lưng đau, mỏi, ù tai, nghễnh ngãng.

Lòng bàn chân có liên quan đến thận.

Ngón chân cái có liên quan đến gan, tì.

Ngón thứ tư có liên quan đến gan (xát ngón này có thể chữa được táo bón, lưng vai đau mỏi).

Mu ngón chân thứ hai có liên quan đến dạ dày (xát ngón 2 có thể chữa được chứng trướng bụng, đầy hơi, ợ chua).

Mu ngón chân út có liên quan đến bàng quang (xát ngón chân út có thể chữa được chứng bí đái, đái són, đái buốt).

Theo y học hiện đại

Theo y học hiện đại xoa bópbấm huyệt có những tác dụng:

- Kích hoạt tuần hoàn máu.

- Phát huy hiệu lực của thần kinh hưng phấn để giải tỏa các ảnh hưởng tiêu cực của thần kinh ức chế tạo nên các kích thích của các hệ nội tiết, các hệ lympho tiết ra các hợp chất hóa chất như endorphin có tác dụng giảm đau, tăng cường các chất nội sinh có tác dụng chữa bệnh, loại trừ các oxy tự do hoặc các acid béo chứa nó gây bệnh…, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.

- Khi xoa bóp, những vảy sừng của biểu bì bị bong ra; đồng thời tạo điều kiện cho tuyến mồ hôi, và tuyến mỡ bài tiết tốt hơn; tức là làm cho quá trình đào thải những sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hoá được tốt hơn.

- Khi xoa bóp, da được cung cấp máu tốt hơn, đồng thời loại trừ những khả năng ứ đọng ở tĩnh mạch; sự chuyển động của bạch huyết cũng gia tăng, chẳng những tại chỗ mà còn ở vùng lân cận nữa.

- Giúp giải tỏa các tiêu cực tâm lý (stress, các cảm xúc tiêu cực, nóng giận, buồn, ghen…).

- Đối với gân: xoa bóp làm tăng tuần hoàn qua cơ nhờ đó gân được dinh dưỡng tốt hơn, làm gân mềm mại, tăng tính đàn hồi, tăng tầm hoạt động của khớp trong trường hợp co rút gân và dây chằng của khớp .

- Đối với khớp: tác dụng của xoa bóp khớp cũng được tăng cường dinh dưỡng bao hoạt dịch tăng tiết chất nhờn làm trơn ổ khớp.

- Đối với xương: tuần hoàn cơ được cải thiện khi xoa bóp làm xương được nuôi dưỡng tốt hơn, xoa bóp làm tan tụ máu cơ, chống kết dính các sợi cơ, gân trong chấn thương.

Như vậy, xoa bóp - bấm huyệt bàn chân có tác dụng rất lớn đối với sức khỏe, không chỉ mang lại cảm giác thư giãn mà còn tác động đến toàn bộ cơ thể qua hệ thống kinh lạc, huyệt vị, các đường phản xạ...

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Y học cổ truyền gọi thuốc bổ nghĩa là “bổ cái hư” và “ích cái tổn”, Có tác dụng nâng cao chính khí của cơ thể bị suy nhược về các mặt âm, dương, khí, huyết và tân dịch.

Thuốc bổ là những thuốc làm tăng cường các chức năng sinh lý bị yếu trong hai trạng thái hư nhược thường gặp là âm hư và dương hư.

Thuốc bổ ích được chia làm 4 loại cụ thể: bổ âm, bổ dương, bổ khí, bổ huyết:

Thuốc bổ âm

Đây là những thuốc được sử dụng trong các bệnh mà huyết dịch bị kém (thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết), do viêm nhiễm lâu ngày, hoặc do rối loạn các hoạt động thần kinh thực vật, biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng mà thầy thuốc cổ truyền thường mô tả như sau:

- Nếu hư nhược do lao phổi, ho lâu ngày, ho ra máu, gò má đỏ, sốt hâm hấp, ra mồ hôi trộm, y học cổ truyền gọi là phế âm hư.

- Nếu hư nhược do các chứng đau nhức trong xương, sốt hâm hấp, ù tai, đau lưng, di tinh, di niệu, đau gót chân, miệng khô, lưỡi ráo, y học cổ truyền gọi là chứng thận âm hư.

- Thuốc bổ âm là những thuốc chữa các tình trạng bệnh do phần âm của cơ thể bị suy kém (âm hư), tân dịch bị hao tổn, hư hỏa bốc lên gây ra: miệng khô, đau họng, nước tiểu đỏ ít, táo bón.

Nói chung là các phần âm của các tạng phế, thận, vị và tân dịch bị hư tổn.

Chống chỉ định: không dùng thuốc bổ âm cho những người tỳ vị hư: tiêu chảy, chậm tiêu…

Theo y học hiện đại, các phương thuốc bổ âm của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các bệnh do rối loạn quá trình ức chế thần kinh: cao huyết áp, mất ngủ, suy nhược thần kinh thể ức chế giảm.

- Trẻ em ra mồ hôi trộm, đái dầm… do hệ thần kinh chưa phát triển hoàn chỉnh.

- Các triệu chứng của rối loạn hệ thần kinh thực vật trong bệnh lao: sốt hâm hấp, gò má đỏ, ho ra máu, mồ hôi trộm…

- Các bệnh chất tạo keo: nhức trong xương, hâm  hấp sốt, khát nước…

- Một số trường hợp cơ địa dị ứng, nhiễm khuẩn trong: viêm bàng quang mạn tính, hen phế quản, viêm phế quản mạn tính…

- Các trường hợp sốt kéo dài không rõ nguyên nhân.

- Thời kỳ hồi phục trong một số bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn có sốt kéo dài gây tình trạng mất nước: da khô, miệng khát, táo bón…

Bài thuốc bổ âm kinh điển: đó là bài Lục vị gồm: thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh.

Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: bổ can thận âm.

Thục địa

Thuốc bổ dương

Thuốc bổ dương là những thuốc chữa trị các tình trạng bệnh do phần dương của cơ thể bị suy kém (dương hư). Nói chung là các phần dương của các tạng phủ tâm, tỳ, thận bị hư tổn.

Chống chỉ định: không dùng thuốc bổ dương cho những người thuộc chứng âm hư sinh nội nhiệt.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ dương của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các bệnh do hưng phấn thần kinh giảm: liệt dương, di tinh, đau lưng, ù tai.

- Trẻ em chậm phát dục: chậm mọc răng tóc, chậm biết đi, thóp chậm liền, trí tuệ chậm phát triển.

- Người lão suy: đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều lần.

- Đái dầm thể hư hàn (không phải là âm hư  sinh nội nhiệt).

- Hen phế quản mãn.

- Một số bệnh khớp mãn tính.

- Bệnh do hưng phấn thần kinh bị giảm sinh ra mệt mỏi, buồn ngủ, thiếu phấn chấn, huyết áp hạ, gọi là thận dương hư.

- Bệnh do thở kém vì trở ngại thông khí ở phổi (do giãn phế quản, hen, xơ phổi…) gọi là khí hư.

- Bệnh do thiếu vận động tiêu hóa làm kém ăn, chậm tiêu, đầy bụng, tiêu chảy mãn tính, trương lực cơ giảm làm sa dạ dày, sa trực tràng, sa sinh dục…, goi là tỳ dương hư.

Bài thuốc bổ dương kinh điển bát vị gồm: thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh, quế nhục, phụ tử (chế).

Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: bổ thận dương.

Thuốc bổ khí

Thuốc bổ khí là những thuốc chữa các chứng bệnh gây ra do khí hư. Nói chung là phần khí của các tạng phế, tỳ bị hư tổn.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ khí, của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các chứng do suy nhược cơ thể: ăn kém, ngủ kém, sụt cân, hồi hộp, thiếu máu, phù thũng, thở yếu.

- Các bệnh mãn tính: tiêu chảy kéo dài, viêm đại tràng mãn, viêm loét dạy dày - tá tràng, viêm gan mạn, sa dạ dày, sa trực tràng, giãn phế quản, hen suyễn, viêm phế quản mạn, phế khí thũng, rong huyết, rong kinh, sa sinh dục, táo bón ở người già…

Bài thuốc kinh điển Tứ quân: đảng sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo.

Công dụng: bổ khí, kiện tỳ.

Thuốc bổ huyết

Thuốc bổ huyết là những thuốc chữa những chứng bệnh gây ra do huyết hư. Nói chung, bổ huyết là bổ phần vật chất của cơ thể. Nên khi bổ huyết tức là có bổ âm.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ huyết của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

-  Các chứng thiếu máu, mất máu.

- Các chứng do suy nhược cơ thể: hồi hộp, mất ngủ, ăn kém.

- Các bệnh rối loạn kinh nguyệt: rong huyết, rong kinh, kinh nguyệt không đều, kinh ra ít…

- Các bệnh gây đau khớp, cứng khớp, teo cơ …

Bài thuốc kinh điển Tứ vật và Quy tỳ:

Tứ vật: xuyên khung, đương quy, thục địa, bạch thược.

Dạng dùng: hoàn, sắc.

Quy tỳ: đảng sâm, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, cam thảo, phục thần, táo nhân, viễn chí, nhãn nhục, mộc hương.

Dạng dùng: tễ, sắc.

Công dụng:

- Tứ vật: bổ huyết.

Quy tỳ: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết.

Thuốc bổ dưỡng của y học cổ truyền qua nghiên cứu của khoa học hiện đại càng khẳng định thêm tác dụng. Các bài thuốc bổ của y học cổ truyền rất đa dạng phong phú, từ một vài bài thuốc cổ phương kinh điển qua gia giảm cho ra rất nhiều bài thuốc có tác dụng bồi bổ hoặc trị các bệnh khác.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị Điều trị ban ngày Cơ sở 3, BV. Đại học Y Dược TP.HCM)

Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như: dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống. Đồng thời, bồn bồn là vị thuốc hay, chữa được nhiều bệnh.

Mô tả cây

Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòngchảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1m. Bồn bồn được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.     Cây bồn bồn có tên khoa học là Typha orientalis G.A. và một số khác mang các tên: Typha auhustata Bory et Chaub, Typha augustifolia L, Typha latifoliaL, Typha daviana Hand Mazz hoặc Typhaminima Funk... Tất cả đều cùng họ Hương bồ (Typhaceae). Bồn bồn còn có nhiều tên khác như: thủy hương bồ, hương bồ thảo, cỏ nến, cỏ lác... Hoa bồn bồn thuộc loại đơn tính, nằm trên cùng một trục, hoa đực ở trên có lông ngắn màu vàng nâu, hoa cái ở dưới có lông màu nâu nhạt.

Khi thu hái cây bồn bồn, cắt lấy hoa đực phơi khô, giã nhỏ, rây lấy phấn hoa, đem phơi lại lần nữa. Loại phấn hoa này có tên là bồ hoàng (Pollel Typhae), nếu để nguyên như thế gọi là sinh bồ hoàng, đem sao đen gọi là hắc bồ hoàng. Theo các tài liệu Đông y cổ thì bồ hoàng có vị cam, tính bình; đi vào ba kinh can, tỳ và tâm bào.Trong Đông y thường lấy phấn hoa, ngoài ra còn dùng lá, hoa và mầm rễ để làm vị thuốc. Bồ hoàng là vị thuốc thông dụng nhất từ cây bồn bồn được lấy từ hoa đực của những cây bồn bồn. Bồ hoàng không mùi, không vị, nổi trên nước. Có thể dùng bồ hoàng sống hoặc sao đen, tùy vào mục đích chữa bệnh.

Sinh bồ hoàng có tác dụng hoạt huyết, hành ứ, tiêu viêm; dùng chữa các loại bệnh trật đã tổn thương, phụ nữ đau bụng kinh, kinh bế, kinh nguyệt không đều, huyết ứ, đau ngực, đau hông, bạch đái, tiểu tiện không thông và một số trường hợp bị viêm nhiễm. Riêng hắc bồ hoàng có tác dụng thu liễm, chỉ huyết; dùng để chữa các chứng ho ra máu, khạc ra máu, chảy máu cam, thổ huyết, rong kinh, rong huyết, tiểu tiện ra huyết... Bồ hoàng được dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột đều có hiệu quả. Liều dùng mỗi lần từ 4 - 8g.

Điều trị một số bệnh của trẻ nhỏ từ hoa bồn bồn

Chữa tai chảy mủ: bồ hoàng tán nhỏ thành bột mịn, rắc vào lỗ tai của trẻ. Mỗi ngày rắc 1 lần.

Chữa tai bị chảy máu ở trẻ nhỏ: dùng bồ hoàng sao đen, tán nhỏ thành bột mịn, rắc vào lỗ tai trẻ nhỏ.

Chữa chứng mũi chảy máu lâu ngày không khỏi ở trẻ: dùng bồ  hoàng 3 phần, 1 phần hoa thạch lựu, hai t hứ đem trộn đều, tán thành  bột mịn nhỏ, mỗi ngày cho trẻ uống 2 lần vào buổi sáng sớm và tối, mỗi lần chỉ khoảng 4g bột thuốc, hòa vào nước sôi để nguội cho trẻ uống.

Chữa lưỡi sưng thũng, không nói được ở trẻ: dùng bồ hoàng rồi bôi vào lưỡi cho trẻ nhỏ nhiều lần trong ngày.

Chữa phế nhiệt, ho khạc ra máu ở trẻ nhỏ: dùng 4g bồ hoàng, huyết dư 4g, nước ép củ sinh địa hoặc củ mạch môn chiêu thuốc.

Bồ hoàng là vị thuốc thông dụng nhất từ cây bồn bồn được lấy từ hoa đực của những cây bồn bồn

Một số công dụng khác

Tuệ Tĩnh, đại danh y của Việt Nam, rất tâm đắc với vị thuốc bồ hoàng, ông đã để lại trong Nam dược thần hiệu những bài thuốc hay có bồ hoàng như:

Thổ huyết: bồ hoàng sao đen mỗi lần uống từ 4 - 8g.

Một số công dụng khác

Tuệ Tĩnh, đại danh y của Việt Nam, rất tâm đắc với vị thuốc bồ hoàng, ông đã để lại trong Nam dược thần hiệu những bài thuốc hay có bồ hoàng như:

Thổ huyết: bồ hoàng sao đen mỗi lần uống từ 4 - 8g.

Chảy máu cam: bồ hoàng sao đen 4g và thanh đại 4g; uống một lần.

Đại tiện ra máu: bồ hoàng sao đen, mỗi lần uống từ 4 - 8g với nước cốt lá sen vànước cốt củ cải.

Khạc ra máu: bồ hoàng và lá sen, hai vị bằng nhau, sao, tán bột; mỗi lần uống từ 8 - 12g.

Đau bụng kinh, rong kinh, kinh nguyệt không đều: bồ hoàng sao, lá lốt tẩm muối sao, tán nhỏ luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu; mỗi lần uống 30 hoàn.

Sản phụ đau bụng do máu hôi ra không hết: bồ hoàng sao qua một lớp giấy; mỗi lần uống 4g.

Một số y thư của Trung Quốc cũng ghi lại nhiều bài thuốc kinh nghiệm có bồ hoàng như sau:

Lưỡi sưng đầy miệng: sinh bồ hoàng đặt dưới lưỡi, ngày thay vài lần là khỏi (Giản tiện phương).

Thổ huyết, tiểu tiện ra huyết: bồ hoàng sao tán bột, mỗi lần uống 4g với nước cốt sinh địa (Thánh tễ Tổng lục phương).

Mụt mọc trong ruột, trĩ ra huyết, ra nước vàng: bồ hoàng tán bột, mỗi lần uống 8g với nước lạnh (Trửu hậu phương).

Phụ nữ có mang bị động thai như muốn đẻ non: bồ hoàng sao đen tán bột, uống 4g với nước giếng (Tập nhất phương).

Hạ bộ bị thấp nhiệt, ẩm ướt gây ngứa ngáy, khó chịu: sinh bồ hoàng tán bột thoa vài lần là khỏi (Thiên kim phương).

Lỗ tai bị thối: sinh bồ hoàng tán bột thổi vào vài lần là khỏi (Thánh huệ phương).

Giáo sư Đỗ Tất Lợi cũng ghi lại một bài thuốc kinh nghiệm trong tác phẩm Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam dùng chữa các chứng xuất huyết bên trong: bồ hoàng 5g, cao ban long, cam thảo 2g; sắc uống.

Liều dùng và chú ý:

- Uống 3 - 20g, bọc lúc cho vào thuốc thang. Bồi đắp ngoài tùy theo yêu cầu.

- Phụ nữ có thai không dùng (bồ hoàng sống có tác dụng co tử cung).

- Không có triệu chứng ứ huyết không dùng.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị điều trị ban ngày - Cơ sở 3 BV. Đại học Y Dược TP.HCM)