BIẾN CHỨNG U MÁU LOÉT HƯỚNG PHÒNG NGỪA VÀ XỬ TRÍ THÍCH HỢP

U máu - 12/11/2025

U máu là khối u lành tính được tạo thành bởi sự tăng sinh quá mức của tế bào lót trong lòng mạch máu. Đây là dạng thường gặp nhất của bất thường mạch máu, với tỷ lệ 1 trên 10 trẻ sinh ra có u máu nhũ nhi.

Một số trường hợp u máu có biến chứng do diễn tiến tự nhiên của u máu (loét, chảy máu) hay biến chứng nhân tạo (chấn thương, điều trị). Trong đó biến chứng loét là biến chứng thường gặp nhất.

Tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh đang lan rộng khắp thế giới như một “đại dịch”. WHO xác định đây cũng chính là vấn đề hàng đầu đe dọa đến sức khỏe loài người với khoảng 5 triệu ca tử vong mỗi năm. Tại Việt Nam, vấn đề này dần trở nên cấp bách hơn khi tình trạng nhiễm trùng đa kháng thuốc đang ngày càng gia tăng “chóng mặt”. Do đó việc tuân thủ đúng theo chỉ định của bác sĩ trong việc sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng do u máu loét là vô cùng cần thiết.

Biến chứng u máu loét:

  • Tỉ lệ xuất hiện ở 10-15% trẻ bị u máu, đặc biệt là trong u máu hỗn hợp (u máu kết hợp tổn thương nông và sâu). Loét thường xảy ra ở u máu vùng tỳ đè, khu vực hậu môn sinh dục, môi, ngực, vùng nếp kẽ, u máu giai đoạn tăng sinh nhanh chóng ; mặc dù u máu bất kỳ chỗ nào cũng có thể bị loét.
  • Nguyên nhân có thể do ma sát, do ẩm ướt, do diễn tiến tự nhiên của u máu, do chấn thương (bé cào gãi, điều trị u máu bằng phương pháp không thích hợp).
  • Các vết loét rất đau đớn, dễ chảy máu, và dẫn đến hình thành sẹo sau khi lành, có thể mất vài tháng.

Hướng phòng ngừa u máu loét:

  • Để ngăn ngừa loét, nhất là u máu ở các vùng đã nêu trên, phụ huynh nên hạn chế không cho bé cào gãi vùng u máu, tránh để bé té ngã va chạm mạnh vùng u máu, những u máu khu vực nếp kẽ cần giữ khô thoáng, tránh ẩm ướt, giặt thay tã thường xuyên.

Hình 1: U máu bị loét

Hình 2: U máu sau điều trị loét

Hướng xử trí u máu loét:

Nếu có dấu hiệu loét => cần cho bé khám sớm để có hướng xử trí thích hợp:

  • Dùng kháng sinh uống +/- thoa tại chỗ theo chỉ định của bác sĩ.
  • Giảm đau: Paracetamol có thể dùng làm giảm đau do vết loét nếu cần thiết, liều dùng là 15mg/kg cân nặng/lần, mỗi lần cách 6h.
  • Luôn giữ cho vết loét khô thoáng, tránh ẩm ướt, nhất là vùng hậu môn-sinh dục rất dễ dính phân, nước tiểu.
  • Rửa vết loét nhiều lần trong ngày, đặc biệt sau khi bé đi vệ sinh, rửa bằng nước sạch, không dùng nước muối do dễ làm kích thích gây đau rát, vết loét lan rộng hơn, có thể rửa vết loét bằng dung dịch thuốc tím KMNO4 pha loãng theo chỉ định của bác sĩ (pha thành dung dịch nồng độ 1/10.000 có màu hồng cánh sen).
  • Sau khi khô, bôi các dung dịch màu sát trùng như Eosin 2% lên vết loét ngày 2 lần.
  • Đối với các u máu loét lớn, lâu lành, thoa Timolol 0.5% +/- Laser xung màu có hiệu quả cao: lành nhanh hơn, giảm đau.
  • Đối với u máu loét đã tạo mài trên bề mặt: Không tự ý bóc lớp mài ra, do dễ làm chảy máu và nhiễm trùng, chỉ cần rửa vết loét bằng nước muối sinh lý NaCl 0.9% hoặc nước đun sôi để nguội hàng ngày lâu dần lớp mài sẽ mềm ra, tự tróc. Hoặc có thể bôi mỡ kháng sinh như Mupirocin 2%, hoặc Curiosin gel lên chỗ đóng mài, 2-3 lần/ngày theo chỉ định của bác sĩ.
  • Trong quá trình điều trị loét, bé và mẹ bé (nếu bé bú sữa mẹ) không ăn các loại thực phẩm dễ kích thích vết loét lâu lành như thực phẩm dễ dị ứng, hải sản, đậu phộng, các loại hạt, sản phẩm lên men.
  • Tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ trong việc sử dụng kháng sinh nhằm đạt hiệu quả điều trị cao nhất và giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh:
    • Phụ huynh thông báo cho bác sĩ về tiền căn của bé: dị ứng thuốc, nhất là thuốc kháng sinh (nếu có) ; tiền căn đang sử dụng thuốc (nếu có) ; tiền căn các bệnh mạn tính.
    • Thực hiện đúng chỉ định của bác sĩ về việc sử dụng thuốc kháng sinh: liều lượng thuốc/lần, số lần/ngày, thời điểm uống thuốc (ví dụ một số loại kháng sinh uống trước hoặc ngay sau ăn như Amoxicillin hay Cefixim, còn một số loại khác uống lúc bụng đói (1 giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn) như Azithromycin dùng 1 lần mỗi ngày), khi dùng chung với thuốc khác (ví dụ như thời điểm uống kháng sinh với men vi sinh bổ sung phải cách ít nhất 4 giờ), cách dùng (thuốc viên: nuốt với một ly nước, không được nhai ; thuốc gói dạng bột pha hỗn dịch: đập nhẹ gói thuốc nhiều lần để bột thuốc rời nhau, cho một lượng nước để trộn thuốc và lắc đều trước khi dùng, dùng ngay sau khi pha), số ngày/đợt điều trị (phụ huynh không tự ý ngưng thuốc ngay cả khi cảm thấy tình trạng loét đã ổn định để tránh việc không lường trước được diễn tiến nhiễm trùng và nguy cơ đề kháng kháng sinh).
    • Theo dõi sát theo chỉ định của bác sĩ: nếu có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào như sốc, phản ứng dị ứng (phát ban, mề đay, ngứa, khó thở, phù mặt, mắt, môi, hầu họng, bong tróc da,…), loạn khuẩn đường ruột, viêm đại tràng giả mạc (đau bụng, tiêu chảy, tiêu ra máu,…), bất thường chức năng gan, thận, huyết học,… ; tình trạng nhiễm trùng không cải thiện (vết loét không khô, chảy mủ nhiều, bé sốt,…) => báo ngay cho bác sĩ điều trị để có hướng xử trí thích hợp.