Châm cứu có thực sự hiệu quả?
Suốt một thời gian dài, châm cứu bị kẹt giữa hai thái cực. Một bên coi đây là vốn liếng y học lâu đời đã được kiểm chứng qua nhiều thế kỷ thực hành, còn bên kia khẳng định phần lớn tác dụng chỉ là hiệu ứng tâm lý.
Tranh luận theo kiểu tin hay không tin dễ đẩy câu chuyện vào ngõ cụt. Với một phương pháp đã đi sâu vào lâm sàng ở rất nhiều quốc gia, câu hỏi đáng đặt ra không phải là tin tưởng hay bác bỏ, mà là châm cứu có ích trong những bệnh cảnh nào, hiệu quả tới đâu, cơ chế nào giải thích được và giới hạn của bằng chứng hiện nay nằm ở đâu.
Y học cổ truyền nhìn châm cứu qua hệ thống kinh lạc, khí huyết, tạng phủ, qua các cặp đối lập như hư-thực, hàn-nhiệt, và qua cách mỗi người bệnh đáp ứng một khác. Đó là một hệ lý luận riêng, được bồi đắp từ quan sát lâm sàng qua thời gian dài. Y học hiện đại không thể quy kinh lạc về một dây thần kinh cụ thể, cũng không thể đổi khí huyết thành một chất hay một phản ứng sinh hóa đơn lẻ. Nhưng điều đó không có nghĩa châm cứu nằm ngoài tầm với của khoa học. Hai thập niên trở lại đây, thần kinh học, chẩn đoán hình ảnh chức năng, sinh học phân tử và miễn dịch học đã làm rõ được phần nào những gì diễn ra trong cơ thể sau mỗi lần châm.
Dưới lăng kính thần kinh học, có thể xem châm cứu như một cách điều biến thần kinh ngoại vi có chủ đích. Khi cây kim xuyên qua da và lớp mô bên dưới, nhất là lúc người thầy thuốc vê kim, nâng kim, đẩy kim, hoặc kết hợp với một dòng điện nhẹ trong điện châm, kích thích cơ học ấy tác động lên đầu tận thần kinh cảm giác, lên mô liên kết, vi mạch, tế bào mast và các tế bào ở khoảng kẽ quanh vùng châm. Tín hiệu được chuyển thành xung thần kinh thông qua những bộ cảm nhận lực và cảm nhận đau như TRPV1, TRPV2, ASIC cùng nhiều kênh ion khác. Từ đó, xung này theo thần kinh ngoại biên chạy về tủy sống, lên thân não, đồi thị rồi tới các mạng lưới xử lý cảm giác và đau trong não bộ.
Nhưng những phát hiện đó không chứng minh trọn vẹn học thuyết kinh lạc theo cách hiểu cổ điển. Chúng chỉ mở ra một khả năng đáng cân nhắc, rằng một số huyệt có thể là những vùng mô, thần kinh và miễn dịch mang đặc điểm đáp ứng sinh học riêng. Vài nghiên cứu mô học và tiền lâm sàng ghi nhận tại vùng huyệt, đầu tận thần kinh, mạch máu nhỏ, tế bào mast hay thụ thể cảm nhận lực phân bố dày hơn so với vùng da lân cận. Đây là dữ liệu đáng giá, song cần được đặt đúng chỗ. Nó củng cố giả thuyết về cơ chế, chứ chưa đủ để kết luận rằng toàn bộ hệ thống huyệt vị đều có tính đặc hiệu.
Châm cứu trong giảm đau
Một trong những nghiên cứu cơ chế châm cứu hay được nhắc tới là công trình của Goldman và cộng sự đăng trên Nature Neuroscience năm 2010. Nhóm tác giả nhận thấy ở chuột, châm cứu làm tăng nồng độ adenosine tại mô kẽ gần huyệt. Adenosine là một chất điều biến thần kinh có khả năng góp phần giảm đau. Khi thụ thể adenosine A1 bị chặn lại, tác dụng giảm đau trong mô hình thí nghiệm sụt hẳn. Kết quả này cho thấy châm cứu có thể tạo ra một đáp ứng sinh học ngay tại chỗ, không phụ thuộc vào kỳ vọng của con vật về việc được chữa. Dù vậy, sẽ là vội vàng nếu coi adenosine là cơ chế duy nhất, hay xem nó đã đủ để giải thích hiệu quả trên người.
Một hướng khác xoay quanh hệ thống giảm đau nội sinh của cơ thể. Nhiều thực nghiệm cho thấy châm cứu và điện châm có thể tác động lên beta endorphin, enkephalin và dynorphin, vốn là những opioid nội sinh giữ vai trò kiểm soát đau ở não và tủy sống. Nghiên cứu chụp PET của Harris và cộng sự trên người bệnh đau cơ xơ hóa ghi nhận châm cứu thật và châm cứu giả tạo ra những thay đổi khác nhau trên hệ thụ thể muy opioid ở một số vùng não. Điều này không có nghĩa châm cứu hoạt động y như thuốc opioid, nhưng nó gợi ý rằng hệ opioid nội sinh có thể là một mắt xích trong chuỗi giảm đau sau châm.
Vậy trên thực tế lâm sàng, châm cứu có giảm đau thật cho người bệnh hay không? Một phân tích gộp dữ liệu từng cá thể của Vickers, Vertosick và cộng sự, cập nhật năm 2018 trên The Journal of Pain, đã tổng hợp số liệu của 20.827 người bệnh từ 39 thử nghiệm ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy châm cứu tốt hơn so với không châm cứu, đồng thời nhỉnh hơn so với châm cứu giả ở các nhóm đau lưng và cổ, thoái hóa khớp, đau đầu mạn tính và đau vai. Có một chi tiết đáng lưu ý: Khoảng cách giữa châm cứu thật và châm cứu giả nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách giữa châm cứu và không điều trị. Nói cách khác, tác dụng của châm cứu nhiều khả năng gồm cả phần đặc hiệu lẫn phần không đặc hiệu, trong đó có kỳ vọng, có bối cảnh điều trị và chính đáp ứng thần kinh khi cơ thể bị kích thích cảm giác.
Bởi thế, không nên dùng hiệu ứng giả dược như một cái phẩy tay để gạt bỏ tất cả. Khi phân tích riêng phần tác dụng không đặc hiệu, Linde và cộng sự chỉ ra rằng ngay cả châm cứu giả cũng tạo được hiệu quả đáng kể. Một cây kim cắm nông, cắm lệch hay cắm ngoài huyệt vẫn có thể kích thích thụ thể cơ học, vẫn đánh thức sợi thần kinh cảm giác và vẫn khơi dậy kỳ vọng được chữa lành. Trong nghiên cứu châm cứu, cái gọi là giả dược không hề trơ như viên đường trong thử nghiệm thuốc. Đó cũng là lý do vì sao chứng minh tính đặc hiệu của huyệt lại khó hơn nhiều so với thử nghiệm một loại thuốc thông thường.
Tính đặc hiệu của huyệt đến nay vẫn còn để ngỏ. Nghiên cứu cộng hưởng từ chức năng của Na và cộng sự về điện châm huyệt Dương Lăng Tuyền (GB34) cho thấy kích thích tại huyệt thật và tại một điểm giả ngay bên cạnh có thể tạo ra những kiểu hoạt hóa não khác nhau, trong đó có các vùng liên quan tới vận động như hạch nền, đồi thị và tiểu não.
Một nghiên cứu nhỏ khác của Yeo và cộng sự trên người bệnh Parkinson cũng ghi nhận kích thích GB34 gắn với sự hoạt hóa một số vùng não vận động. Dù vậy, đây phần lớn là các nghiên cứu hình ảnh học với cỡ mẫu nhỏ. Chúng giúp dựng nên giả thuyết về mối liên hệ giữa huyệt và mạng lưới thần kinh, nhưng chưa cho phép khẳng định châm GB34 chữa được Parkinson hay các rối loạn vận động.
Châm cứu trong sức khỏe tâm thần
Ở mảng cảm xúc và stress, vài nghiên cứu cộng hưởng từ chức năng về huyệt Nội Quan (PC6) cho thấy châm cứu có thể làm thay đổi hoạt động của những vùng não liên quan tới điều hòa cảm xúc, trí nhớ và nhận thức về bản thân. Đây là hướng đáng quan tâm, bởi trong thực tế lâm sàng, đau mạn tính, lo âu, mất ngủ và căng thẳng thường quấn vào nhau. Nhưng một thay đổi trên tín hiệu cộng hưởng từ chức năng không đồng nghĩa với một hiệu quả điều trị đã được chứng minh. Muốn khẳng định lợi ích trong rối loạn lo âu hay trầm cảm, cần thêm những thử nghiệm lâm sàng đủ mạnh, có tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng, có nhóm chứng phù hợp và được theo dõi trong thời gian dài.
Một bước tiến đáng chú ý khác đến từ lĩnh vực thần kinh miễn dịch. Năm 2021, nhóm của Qiufu Ma, Liu, Wang, Su cùng các cộng sự công bố trên Nature một nghiên cứu về cơ sở giải phẫu thần kinh cho phép điện châm khởi động trục phế vị thượng thận. Trên mô hình chuột, điện châm cường độ thấp tại vùng tương ứng huyệt Túc Tam Lý (ST36) có thể kích hoạt nhóm neuron cảm giác mang dấu ấn PROKR2, thúc đẩy đường dẫn truyền từ dây phế vị tới tuyến thượng thận, giải phóng catecholamine và làm dịu phản ứng viêm trong mô hình nhiễm nội độc tố. Đây là một công trình cơ chế có sức nặng, nhưng vẫn thuộc giai đoạn tiền lâm sàng. Vì thế, không thể lấy kết quả này để tuyên bố châm cứu chữa được bệnh viêm ở người khi chưa có thử nghiệm lâm sàng tương xứng.
Tổng hợp những gì đang có, cách nói chuẩn xác nhất là châm cứu có bằng chứng lâm sàng thuyết phục nhất ở một số hội chứng đau mạn tính, và ở một vài tình huống kiểm soát triệu chứng như dự phòng cơn migraine hay đau đầu do căng thẳng, theo các tổng quan hệ thống. Những hướng còn lại, từ điều hòa miễn dịch, lo âu, Parkinson, rối loạn vận động cho tới các bệnh nội khoa khác, hiện vẫn nên được trình bày ở mức tiềm năng nghiên cứu, hoặc như một can thiệp tích hợp tùy từng ca. Bảo châm cứu chữa được bách bệnh là sai. Mà gọi châm cứu chỉ là giả dược thì cũng giản lược quá mức.
Các tổ chức y khoa lớn nhìn nhận châm cứu
Trong thực hành, các tổ chức y khoa lớn trên thế giới đang tiếp cận châm cứu một cách thận trọng và có phân tầng chỉ định. Năm 2017, Hiệp hội Thầy thuốc Hoa Kỳ (American College of Physicians: ACP) xếp châm cứu vào nhóm lựa chọn không dùng thuốc cho đau thắt lưng, đặc biệt là đau lưng mạn tính. Trong hướng dẫn về đau mạn tính nguyên phát năm 2021, Viện Quốc gia về Y tế và Chăm sóc chất lượng Anh quốc (NICE) cho phép cân nhắc một liệu trình châm cứu trong những điều kiện cụ thể. Trung tâm Quốc gia về Sức khỏe bổ sung và tích hợp Hoa Kỳ (NCCIH) cũng nhìn nhận bằng chứng nghiêng về phía thuận lợi ở đau mạn tính, đau lưng, đau cổ, thoái hóa khớp gối, đau đầu và migraine, trong khi nhiều chỉ định khác vẫn chưa nhất quán.
Còn một điều không thể xem nhẹ, đó là an toàn. Châm cứu là thủ thuật xâm lấn tối thiểu, không phải động tác làm tùy hứng. Kim phải vô khuẩn và dùng một lần, người thực hiện phải được đào tạo bài bản, nắm vững giải phẫu vùng châm và biết nhận diện những chống chỉ định. Người có rối loạn đông máu, đang dùng thuốc chống đông, suy giảm miễn dịch, đang nhiễm trùng da ngay tại chỗ định châm, phụ nữ mang thai hay người mang bệnh nặng đều cần được đánh giá kỹ trước khi tiến hành. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ban hành tài liệu chuẩn thực hành châm cứu, nhấn mạnh các yêu cầu về cơ sở vật chất, đào tạo và an toàn thủ thuật.
Châm cứu có chỗ đứng trong y học tích hợp
Nhìn từ y học cổ truyền, châm cứu là cách điều chỉnh thông qua kinh lạc, khí huyết và sự đáp ứng của toàn bộ cơ thể người bệnh. Nhìn từ thần kinh học hiện đại, châm cứu có thể được nghiên cứu như một dạng kích thích cảm giác và thần kinh ngoại vi, từ đó lan tới tủy sống, não bộ, hệ giảm đau nội sinh, hệ thần kinh tự chủ và một vài trục miễn dịch. Hai cách nhìn ấy không buộc phải loại trừ nhau. Khi được chỉ định đúng, làm đúng kỹ thuật và giải thích đúng mức bằng chứng, châm cứu là một phương pháp có chỗ đứng trong y học tích hợp.
TS BS. Bùi Phạm Minh Mẫn
Lịch khám Sáng thứ 5 hàng tuần
————————————–
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM – Cơ sở 3
221B Hoàng Văn Thụ – Phường Phú Nhuận – TPHCM
Thời gian hoạt động:
– Thứ 2 đến Thứ 6 sáng từ 7h00 – 11h30, chiều từ 13h00 – 16h30.
– Thứ 7 từ 7h00 – 11h30, chiều Thứ 7 và ngày Chủ Nhật nghỉ.
Điện thoại: 02838.444.771 – 02838.420.070
