Chích lể trong Y học cổ truyền và những điều cần biết
Chích lể, còn gọi là trích hay nhể, là một phương pháp điều trị trong Y học cổ truyền bằng cách dùng kim tam lăng hoặc kim châm đâm nhẹ vào huyệt vị hoặc vùng da có tụ huyết, ứ huyết nhằm làm cho máu độc thoát ra ngoài. Trong chích, sau khi rút kim, máu tự chảy ra; còn trong lể, da được véo lên rồi chích và phải nặn bằng tay để máu thoát ra. Mục đích chính của phương pháp này là trực tiếp loại bỏ huyết ứ và độc tố, khai thông kinh lạc, từ đó điều hòa khí huyết và phục hồi sự cân bằng trong cơ thể.
Chích lể là một trong những phương pháp điều trị có lịch sử lâu đời. Từ hơn ba nghìn năm trước, người Ai Cập cổ đại đã sử dụng trích máu trong các nghi lễ chữa bệnh nhằm loại bỏ các chất độc và dịch dư thừa. Phương pháp này tiếp tục được ghi nhận trong y học Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước Công nguyên. Ở phương Đông, chích lể xuất hiện rất sớm và được đề cập trong Hoàng đế Nội kinh Linh khu với tên gọi châm lạc hay lạc thích. Các thiên như Quan châm, Kinh mạch, Nhiệt bệnh đã mô tả rõ việc châm xuất huyết tại nơi tụ huyết nhằm tả tà khí và phòng ngừa bệnh tật. Tuy nhiên, phải đến thời nhà Tống, thủ thuật chích lể mới được mô tả đầy đủ hơn về kỹ thuật, chỉ định và chống chỉ định. Từ thập niên 1970, chích lể được đưa vào giáo trình châm cứu hiện đại và ngày càng được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.
Về cơ sở lý luận Y học cổ truyền, huyết là vật chất cơ bản nuôi dưỡng cơ thể, cùng với khí lưu hành trong hệ thống kinh lạc. Khi huyết lưu thông bình thường thì cơ thể khỏe mạnh, nhưng khi bị ứ trệ sẽ gây rối loạn chức năng và sinh ra bệnh. Chích lể tác động trực tiếp vào nơi huyết ứ, giúp khai thông kinh lạc, tả tà, hoạt huyết hóa ứ và điều hòa khí huyết toàn thân. Phương pháp này không chỉ có tác dụng tại chỗ mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ vùng kinh lạc liên quan. Ngoài ra, chích lể còn được sử dụng như một biện pháp tiết nhiệt, đặc biệt trong các chứng nhiệt bệnh. Việc chích xuất huyết ở các Tỉnh huyệt của 12 kinh chính có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tả hỏa trong tạng phủ. Theo quan niệm Đông y, huyết ứ lâu ngày có thể sinh nhiệt, do đó việc chích lể vừa giúp hoạt huyết vừa làm giảm tình trạng nhiệt tà.
Theo Y học hiện đại, một số nghiên cứu cho thấy chích lể có thể làm giảm cảm giác đau và phản ứng viêm thông qua việc giảm nồng độ chất P trong huyết thanh và giảm các cytokine viêm như IL-1α. Việc mất một lượng máu nhỏ trong quá trình chích lể còn kích thích giải phóng hormon arginine vasopressin, có tác dụng điều hòa thân nhiệt, co mạch và hỗ trợ đáp ứng miễn dịch. Tuy nhiên, cơ chế tác động của chích lể vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn và cần thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu.
Trong lâm sàng, chích lể được chỉ định điều trị nhiều bệnh lý cấp và mạn tính, bao gồm các chứng đau cấp tính như đau lưng, đau thần kinh tọa, đau đầu do ngoại cảm, tắc tia sữa, chắp lẹo và một số trường hợp phù nề chi do viêm tắc mạch. Tuy nhiên, phương pháp này không được áp dụng cho các trường hợp cần cấp cứu ngoại khoa, người bệnh đang sốt kéo dài, mất nước, mất máu, suy tim, rối loạn nhịp tim, bệnh ưa chảy máu hoặc suy giảm miễn dịch.
Kỹ thuật chích lể đòi hỏi dụng cụ vô khuẩn và thao tác chính xác. Sau khi xác định và sát trùng vùng huyệt, người thực hiện nặn dồn máu về vị trí chích, dùng kim đâm nhanh và dứt khoát qua da, sau đó nặn cho máu ứ thoát ra ngoài rồi sát trùng lại vết chích. Liệu trình điều trị tùy thuộc vào tính chất bệnh lý, với bệnh cấp tính thường điều trị ngắn ngày và bệnh mạn tính cần liệu trình dài hơn, có thời gian nghỉ giữa các đợt.
Chích lể nhìn chung là phương pháp tương đối an toàn nếu được thực hiện đúng kỹ thuật. Tuy nhiên, có thể xảy ra một số tai biến như vựng châm, chảy máu nhiều hoặc nhiễm trùng tại chỗ. Các tai biến này thường có thể xử trí hiệu quả bằng cách ngừng thủ thuật, chăm sóc tại chỗ và theo dõi sát người bệnh. Vì vậy, việc nắm vững chỉ định, chống chỉ định và kỹ thuật là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả và an toàn khi áp dụng phương pháp chích lể trong thực hành lâm sàng.
Bác sĩ Chuyên khoa I – Lê Thị Thuý Hằng
Lịch khám sáng thứ 7 hàng tuần
——————————-
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM – Cơ sở 3
221B Hoàng Văn Thụ – Phường Phú Nhuận – TPHCM
Thời gian hoạt động:
– Thứ 2 đến Thứ 6 sáng từ 7h00 – 11h30, chiều từ 13h00 – 16h30.
– Thứ 7 từ 7h00 – 11h30, chiều Thứ 7 và ngày Chủ Nhật nghỉ.
Điện thoại: 02838.444.771 – 02838.420.070
