Dinh dưỡng cần thiết cho sự phục hồi người bệnh sau đột quỵ

Tim mạch - 27/11/2025

Đột quỵ xảy ra khi dòng máu lên não bị gián đoạn do tắc mạch máu não (nhồi máu não) hoặc vỡ mạch máu não (xuất huyết não). Hậu quả là một vùng não bị thiếu oxy, gây ra các triệu chứng như yếu liệt tay chân, méo miệng, nói khó, rối loạn nuốt, rối loạn nhận thức… Nếu không được điều trị và phục hồi chức năng kịp thời, người bệnh có thể để lại di chứng nặng nề, giảm khả năng tự chăm sóc và chất lượng cuộc sống. Trong đó, 3–6 tháng đầu sau đột quỵ được coi là “giai đoạn vàng” cho phục hồi chức năng.

Bên cạnh thuốc và tập vật lý trị liệu, chế độ dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò rất quan trọng: giúp phòng suy dinh dưỡng, duy trì khối cơ, hỗ trợ miễn dịch và đặc biệt là giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

Vì sao người bệnh sau đột quỵ dễ bị suy dinh dưỡng?

Sau đột quỵ, người bệnh thường gặp:

– Khó nuốt, dễ sặc: thức ăn dễ trào lên mũi, vào đường thở, gây ho sặc, viêm phổi hít.

– Yếu liệt tay chân, khó tự xúc ăn, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc.

– Chán ăn, trầm cảm, lo âu, đôi khi mất khả năng diễn đạt nhu cầu ăn uống.

– Nằm lâu, ít vận động, phải kiêng nhiều nhóm thức ăn vì bệnh nền (tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận…).

Nếu không được đánh giá sớm và xây dựng chế độ ăn phù hợp, người bệnh rất dễ suy dinh dưỡng, gầy yếu, chậm liền vết loét tì đè, dễ nhiễm trùng và phục hồi kém.

Nhu cầu dinh dưỡng: Đủ năng lượng – Đủ lượng nước – Cân bằng chất dinh dưỡng – Giảm muối

– Cung cấp đủ năng lượng: Tuỳ độ tuổi, cân nặng và mức độ hoạt động, phần lớn người bệnh sau đột quỵ cần được cung cấp Protein, Carbohydrate, chất béo tốt, Vitamin và khoáng chất. Trung bình một ngày cần nạp năng lượng từ 25-35 kcal/kg cân nặng. Ví dụ như khoảng 1.200 – 1.500 kcal cho người có cân nặng từ 50-55kg. Nếu người bệnh gầy, suy dinh dưỡng, hoạt động phục hồi chức năng nhiều, nhu cầu có thể cao hơn; ngược lại, người béo phì, ít vận động có thể cần giảm bớt năng lượng để tránh tăng cân.

– Uống đủ lượng nước: Uống nhiều nước lọc (30-35ml/ kg cân nặng/ ngày, trung bình từ 1500-2000ml cho người có cân nặng 50-55kg), nếu không có suy tim, suy thận, phù nhiều đi kèm. Cần tuân thủ chỉ định riêng của bác sĩ ở bệnh nhân suy tim, suy thận, đang phù nhiều hoặc đang được hạn chế nước. Hạn chế đồ uống có đường, caffein.

Cân bằng các nhóm chất dinh dưỡng:

  • Đạm: Phần lớn người bệnh cần ít nhất 1,0–1,2 g protein/kg/ngày, có thể cao hơn nếu suy dinh dưỡng, có vết loét hoặc bệnh nặng. Đạm thực vật (đậu, đỗ, vừng, lạc,..), đạm động vật (thịt nạc, cá, sữa ít béo,..
  • Đường Carb: ngũ cốc nguyên hạt, gạo lức,.
  • Chất béo tốt: Dầu oliu, dầu hạt cải, các loại hạt, omega-3 từ cá và hạt lanh.
  • Vitamin và chất xơ: Cải xanh, cải bó xôi, súp lơ, các loại trái cây,…
  • Sữa tách béo hoặc sữa hạt.

Nguyên tắc dinh dưỡng: Mềm – Dễ tiêu – Chia nhiều bữa nhỏ – Nên dùng – Nên kiêng

– Thức ăn mềm, lỏng, nên nghiền hoặc cắt nhỏ đối với người bệnh nhai kém, nuốt khó. Tránh thức ăn quá khô, cứng khiến bệnh nhân dễ nghẹn, sặc gây nguy hiểm. Đánh giá nuốt trước khi cho ăn bằng đường miệng: Người bệnh có dấu hiệu ho sặc, nghẹn nhiều cần được bác sĩ, điều dưỡng và (nếu có) chuyên viên âm ngữ trị liệu đánh giá nuốt, điều chỉnh tư thế ăn, độ đặc thức ăn, hoặc nuôi ăn qua sonde nếu cần, để phòng viêm phổi hít.

– Thức ăn dễ tiêu hoá: bữa ăn phải được hâm nóng ấm để ăn tránh khó tiêu, ảnh hưởng tiêu hoá. Tránh dầu mỡ quá nhiều, tránh ăn quá no khiến người bệnh dễ đầy hơi. Có thể kèm sau bữa ăn thực phẩm sữa chua để dễ tiêu hoá, và trái cây để kiểm soát việc đi tiêu, tránh táo bón.

– Chia nhỏ lượng thức ăn: 4-5 bữa/ ngày giúp kiểm soát đường huyết, cung cấp năng lượng đều đặn duy trì tỉnh táo và tập trung, hỗ trợ tiêu hoá, kiểm soát cân nặng.

Thực phẩm nên dùng:

– Rau xanh: Cải xanh, cải bó xôi, cải chíp,.. giàu oxy hoá và chống viêm. Rau lá xanh, rau Diếp cá chứa Acid folic giúp tái tạo tế bào não và cải thiện trí nhớ.

– Các loại hạt: Hạnh nhân, hạt lanh, hạt hướng dương, hạt óc chó,.. Giàu omega-3 và Vitamin E, Magie giúp bảo vệ mạch máu, giảm nguy cơ tái phát đột quỵ, kiểm soát cholesterol và huyết áp

– Các loại cá: Cá hồi, cá mòi, cá trích, cá thu,.. cung cấp chất béo không bão hoà cải thiện chức năng tim mạch và não.

– Trái cây: các loại trái cây chứa nhiều chất chống oxy hoá, kali, chất xơ, vitamin giúp kiểm soát đường huyết, huyết áp, bảo vệ mạch máu (khoai tây, chuối, hồng xiêm,..)

– Các loại đậu: là một loại protein thực vật, chất xơ giúp kiểm soát cholesterol, cải thiện tim mạch và hỗ trợ hệ tiêu hoá.

– Sữa tách béo: cung cấp kali và canxi kiểm soát huyết áp và ngăn tái đột quỵ.

Thực phẩm nên kiêng:

– Không nên dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng, chè chát, rượu, cà phê…

– Hạn chế: cà muối, dưa muối, hành muối, các loại mắm mặn, đồ hộp, xúc xích, thịt xông khói, mì gói.

– Trứng: Có thể dùng khoảng 3–4 quả/tuần, tối đa khoảng 2 quả/ngày ở người không rối loạn mỡ máu. Ưu tiên trứng luộc, hấp, hạn chế trứng chiên nhiều dầu. Người có tăng cholesterol, bệnh mạch vành, đái tháo đường nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ dinh dưỡng để điều chỉnh lượng trứng phù hợp.

– Mỡ động vật và chất béo bão hòa: Tránh thịt đỏ, da gà, nội tạng động vật và các món chiên rán nhiều dầu mỡ.

– Giảm muối: hạn chế thức ăn có chứa ngâm muối nhiều, WHO khuyến cáo người trưởng thành nên dùng < 5 g muối/ngày (tương đương < 2 g natri/ngày) để giảm nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch và đột quỵ. Không quá 1 thìa cà phê muối mỗi ngày, kể cả muối trong mắm, nước chấm, đồ hộp.

ĐD Nguyễn Thị Thu Hằng

————————————–

Mọi chi tiết xin liên hệ:

Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 3

221B Hoàng Văn Thụ – Phường Phú Nhuận – Thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian hoạt động:

– Thứ 2 đến Thứ 6 sáng từ 7h00 – 11h30, chiều từ 13h00 – 16h30.

– Thứ 7 từ 7h00 – 11h30, chiều Thứ 7 và ngày Chủ Nhật nghỉ.

Điện thoại: 02838.444.771 – 02838.420.070