Nhịn ăn, uống ít nước để chữa bách bệnh, bác sĩ nói gì?
Trong y học, việc “tiết thực” hay nhịn ăn cũng được chú trọng tương đương với việc ăn gì và ăn như thế nào cho khoẻ. Nhiều nghiên cứu về tác động của các phương pháp nhịn ăn như nhịn ăn gián đoạn (Intermittent fasting (IF)); ăn giới hạn thời gian (Time-restricted eating (TRE)); nhịn ăn cách ngày (Alternate-day fasting (ADF)); nhịn ăn định kỳ (Periodic fasting (PF));…đang cung cấp thêm bằng chứng về thay đổi có lợi cho cơ thể như vai trò thúc đẩy chuyển hoá năng lượng, giảm quá trình stress oxy hoá. Tuy nhiên, lợi ích cụ thể của từng phương pháp tiết thực trên những nhóm bệnh cụ thể vẫn còn nhiều tranh cãi.
Hiện nay, một số nhóm thực hành “dưỡng sinh” quảng bá thông tin trên mạng xã hội về công dụng của phương pháp tiết thực – nhịn ăn giúp chữa được nhiều bệnh từ cảm cúm đến ung thư.?. Một vài lý lẽ được nhắc đến với các cụm từ có vẻ quen thuộc và chuyên nghiệp như “thải độc”, “chữa lành”, “trẻ hoá tế bào”,…diễn đạt như thể bao quát cả quá trình nhưng lại mơ hồ về ranh giới khái niệm, thiếu sự quy chiếu trực tiếp lên một quá trình sinh hoá cụ thể và nhất là thiếu bằng chứng khoa học. Một lập luận được sử dụng kiên trì bền bỉ mà chắc hẳn chúng ta đều từng nghe đến là “nhịn ăn giúp bỏ đói tế bào ung thư”. Điểm cốt lõi trong lý lẽ phân tích của phương pháp chữa bệnh này lại vướng phải những lỗi nguỵ biện cơ bản như sau:
– Lỗi đánh đồng cơ chế với hiệu quả điều trị (Mechanism-to-efficacy fallacy). Trong y học dựa trên bằng chứng cần phân biệt: tính hợp lý sinh học/ tác động sinh học/ hiệu quả trên người bệnh/ hiệu quả trong thực hành/ hiệu quả lâm sàng. Ví dụ như nhịn ăn → giảm insulin → tăng ketone → kích hoạt autophagy → có thể loại bỏ tế bào tổn thương – Đây là điểm khởi đầu để hình thành giả thuyết, không phải bằng chứng có thể kết luận “Nhịn ăn chữa được ung thư”.
– Lỗi đánh tráo khái niệm “hỗ trợ điều trị” với “điều trị” (Equivocation fallacy). Có thể tìm thấy nghiên cứu khảo sát với tựa đề “nhịn ăn trong hoá trị – fasting alongside chemotherapy” và thấy một kết quả nào đó về khả năng dung nạp điều trị, chỉ dấu chuyển hóa hoặc một điểm cuối trung gian, tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với “nhịn ăn trị ung thư – fasting treats cancer”. Việc đánh đồng hay đơn giản hoá kết luận gây nguy hại khi biến một phương pháp hỗ trợ điều trị thành vai trò chính trong điều trị.
– Trong suy luận trên, một lỗi phổ biến khá quen thuộc đối với các nhà làm nghiên cứu là sai lệch sống sót/ sai lệch lựa chọn (survivorship/selection bias). Ví dụ một tuyên bố: “Tôi biết một số người nhịn ăn và sau đó họ khoẻ lên.” và sau đó kết luận “Nhịn ăn có tác dụng chữa bệnh.” thì có thể tồn tại vấn đề về sai lệch sống sót (survivorship bias) nếu những người không cải thiện, gặp biến cố, bỏ cuộc hoặc không còn được quan sát không được tính đến.
Việc nhịn ăn và uống ít nước kéo dài đối với cơ thể có thể khiến cơ thể rối loạn nước, điện giải, mất cân bằng toan kiềm, dẫn đến những biểu hiện như mệt, vã mồ hôi, lơ mơ, hôn mê,…có thể diễn tiến suy chức năng gan thận cấp trên những người bệnh có bệnh lý nền.
Trong y khoa, các phương pháp nhịn ăn vẫn được nghiên cứu sâu rộng và ứng dụng cụ thể vào từng giai đoạn bệnh, dưới sự hướng dẫn và phối hợp của các chuyên gia dinh dưỡng. Người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để được tư vấn chế độ ăn uống – nghỉ ngơi và tập luyện hợp lý, giúp cơ thể có nhịp thích nghi.
Thạc sĩ – Bác sĩ Phạm Ánh Ngân
Lịch khám sáng thứ 6 hàng tuần
————————————–
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM – Cơ sở 3
221B Hoàng Văn Thụ – Phường Phú Nhuận – TPHCM
Thời gian hoạt động:
– Thứ 2 đến Thứ 6 sáng từ 7h00 – 11h30, chiều từ 13h00 – 16h30.
– Thứ 7 từ 7h00 – 11h30, chiều Thứ 7 và ngày Chủ Nhật nghỉ.
Điện thoại: 02838.444.771 – 02838.420.070
