Y học cổ truyền trong điều trị rối loạn Tic ở trẻ em – Hội chứng Tourette

Nhi khoa - 15/09/2026

Rối loạn tic là một nhóm rối loạn thần kinh đặc trưng bởi các cử động hoặc âm thanh đột ngột, lặp đi lặp lại, không có nhịp điệu và khó kiểm soát. Tic thoáng qua có thể gặp ở trẻ trong độ tuổi đi học, trong khi hội chứng Tourette chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều. Ở nhiều trẻ, triệu chứng tic có xu hướng giảm dần theo thời gian, đặc biệt khi bước vào tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, tic có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành và ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập cũng như chất lượng cuộc sống.

Nếu các triệu chứng kéo dài từ 1 năm trở lên, trẻ có thể được xếp vào nhóm rối loạn tic dai dẳng. Hội chứng Tourette được chẩn đoán khi có nhiều tic vận động và ít nhất một tic âm thanh xuất hiện trong quá trình bệnh, kéo dài từ 1 năm trở lên và khởi phát trước 18 tuổi.

Trong Y học cổ truyền (YHCT), rối loạn tic ở trẻ em không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng mà tùy theo biểu hiện lâm sàng và diễn biến bệnh có thể được quy vào các phạm trù như Can phong, mạn kinh phong, xích túng hoặc các chứng co giật, sau đó biện chứng theo từng thể bệnh.

Biểu hiện lâm sàng của tic bao gồm: tic vận động và tic âm thanh. Tic vận động có thể biểu hiện bằng các cử động như chớp mắt, nhăn mặt, lắc đầu, nhún vai hoặc các động tác lặp lại khác. Tic âm thanh có thể bao gồm hắng giọng, ho khan, khịt mũi hoặc phát ra những âm thanh không có nghĩa…

Đặc điểm thường gặp: tic thường khởi phát ở trẻ em, phổ biến từ khoảng 4–6 tuổi và có thể biểu hiện rõ hơn vào giai đoạn 10–12 tuổi. Tỷ lệ mắc ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ, với tỷ lệ giữ nam nữ được ghi nhận khoảng 3–4:1.

Nguyên nhân gây ra bệnh tic: Hiện nay, nguyên nhân chính xác của rối loạn tic chưa được xác định đầy đủ. Yếu tố di truyền được cho là có vai trò quan trọng, bên cạnh sự tương tác của nhiều yếu tố sinh học và môi trường.

Căng thẳng tâm lý, mệt mỏi hoặc những thay đổi trong sinh hoạt có thể làm triệu chứng tic tăng lên ở một số trẻ. Một số nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận mối liên quan giữa thời gian sử dụng màn hình kéo dài với mức độ nặng của tic, tuy nhiên chưa đủ cơ sở để kết luận việc sử dụng điện thoại, máy tính bảng hoặc các thiết bị điện tử là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh.

Phương pháp điều trị kết hợp Y học cổ truyền

Can thiệp hành vi toàn diện: Người bệnh có thể được hướng dẫn các phương pháp giúp nhận biết và kiểm soát tic, từ đó giảm mức độ ảnh hưởng của triệu chứng. Một trong những phương pháp có bằng chứng tốt hiện nay là Can thiệp hành vi toàn diện cho tic (Comprehensive Behavioral Intervention for Tics – CBIT).

Điều trị nội khoa với thuốc: Thuốc có thể được chỉ định khi tic gây ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt, học tập hoặc chất lượng cuộc sống. Các thuốc điều trị tác động lên một số hệ dẫn truyền thần kinh nhằm giúp kiểm soát triệu chứng. Việc lựa chọn thuốc, liều dùng và thời gian điều trị cần được cá thể hóa; một số thuốc cần giảm liều từ từ khi ngưng và cần theo dõi các tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị.

Mục tiêu điều trị của YHCT là điều hòa âm dương, điều chỉnh chức năng tạng phủ theo biện chứng, bình Can tức phong, hóa đàm, thanh nhiệt, dưỡng huyết và an thần tùy theo từng thể bệnh, qua đó hướng đến giảm tần suất và mức độ của các biểu hiện tic, đồng thời cải thiện thể trạng của trẻ.

Một số nghiên cứu hiện đại trên các bài thuốc hoặc chế phẩm YHCT cụ thể đã khảo sát tác động lên các hệ dẫn truyền thần kinh như dopamine, GABA và serotonin. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cũng gợi ý một số cơ chế tiềm năng liên quan đến phản ứng viêm thần kinh, stress oxy hóa và trục não – ruột. Tuy nhiên, các cơ chế này chưa thể khái quát cho tất cả các bài thuốc YHCT và vẫn cần thêm các nghiên cứu lâm sàng có chất lượng cao.

Ngoài ra, châm cứu, cấy chỉ và xoa bóp bấm huyệt cũng được nghiên cứu và ứng dụng trong điều trị rối loạn tic. Một số nghiên cứu và tổng quan hệ thống, chủ yếu thực hiện tại Trung Quốc, ghi nhận khả năng cải thiện mức độ tic và điểm số Yale Global Tic Severity Scale (YGTSS), tuy nhiên chất lượng bằng chứng còn khác nhau giữa các nghiên cứu.

Châm cứu thường sử dụng các huyệt như Bách hội (DU20), Phong trì (GB20), Hợp cốc (LI4), Thái xung (LR3), Nội quan (PC6), Tam âm giao (SP6), Thần môn (HT7)… tùy theo thể bệnh và tình trạng cụ thể của trẻ. Cấy chỉ cũng đã được khảo sát trong một số nghiên cứu lâm sàng quy mô nhỏ, nhưng hiện vẫn cần thêm bằng chứng chất lượng cao để xác định rõ hiệu quả và phạm vi áp dụng.

Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 3, các bệnh nhi được bác sĩ thăm khám, đánh giá tình trạng bệnh và biện chứng Y học cổ truyền để xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với từng trường hợp. Trong quá trình điều trị, đáp ứng của trẻ được theo dõi và đánh giá định kỳ để điều chỉnh phương pháp khi cần thiết.

ThS. BS. Phạm Hoàng Mẫn

Khoa Châm cứu – Dưỡng sinh

————————————–

Mọi chi tiết xin liên hệ:

Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM – Cơ sở 3

221B Hoàng Văn Thụ – Phường Phú Nhuận – TPHCM

Thời gian hoạt động:

– Thứ 2 đến Thứ 6 sáng từ 7h00 – 11h30, chiều từ 13h00 – 16h30.

– Thứ 7 từ 7h00 – 11h30, chiều Thứ 7 và ngày Chủ Nhật nghỉ.

Điện thoại: 02838.444.771 – 02838.420.070